CHÀO MỪNG QUÝ THÀY CÔ VÀ CÁC BẠN TỚI THĂM THƯ VIỆN CHIA SẺ TÀI NGUYÊN DẠY & HỌC

Chào mừng quý vị đến với Website Chia sẻ tài nguyên dạy và học của Hoàng Minh Phương.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM > Sắc màu văn hóa dân tộc >

* Văn hóa gia đình Việt Nam (Phần kết luận)

KẾT LUẬN

1. Nỗi đau còn đó

Kể ra những mẩu chuyện đáng gây ngạc nhiên ở các nơi trên thế giới không phải là để quên đi những thực tế hiện đang làm nhức nhối chúng ta, trên đất nước Việt Nam này, ngay khi mà đất nước đã được công nhận là anh hùng, đã có những vinh dự được loài người kính trọng. Với những thay đổi lớn lao do yêu cầu phát triển, do tiếp thu ảnh hưởng xa gần, do sự lỏng then tụt khóa của nề nếp truyền thống, mà ngày nay gia đình Việt Nam đang có tình trạng báo động. Tôi lấy tạm vài con số trên báo chí:

… “Năm 1991 , cả nước có 22.634 vụ ly hôn, thì năm 1992 là 29.226 vụ, năm 1993 đã là 30.000. Ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ ly hôn cao hơn rất nhiều so với các tỉnh trong toàn quốc . . . Theo thống kê gần đây, ở Hà Nội, qua 23.730 vụ ly hôn, hầu hết do phụ nữ đứng đơn, gồm những nguyên nhân chính sau đây:

- Bị đánh đập ngược đãi : 31 % (7.372 vụ).

- Ngoại tình: 14% (3.528 vụ).

- Mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu: 8,83% (2.098 vụ)

- Nghiện hút, cờ bạc: 987 vụ.

- Sắc tài địa vị: 368 vụ.

- Bệnh tật, không có con: 292 vụ.

- Một bên can án, đi tập trung cải tạo: 198 vụ.

- Có vợ lẽ: 1 88 vụ.

- Các nguyên nhân khác: 7.485 vụ (31 ,53%) (1)

Đấy là vấn đề quan hệ vợ chồng, chúng ta còn có nhiều nỗi đau khác.

Có những đứa trẻ bị bỏ rơi. Ở bệnh viện tỉnh Thái Nguyên, ngày 23 - 4 - 1997. Cô y tá Nguyễn Thu Huyền bắt được một em bé ngồi ngơ ngác trước cổng viện, trên ngực kèm theo mảnh giấy viết lời của một bà mẹ không ký tên, nhờ bệnh viện đưa cháu vào trại tàn tật. Ngày 29 - 4 - 1997, anh Nguyễn Văn Thị lại gặp một em bé câm, cũng bị bỏ rơi, nhưng có được mang một cái túi bỏ sẵn áo cũ, mì tôm, cơm nắm. Đến ngày 03 - 7 - 1997, bệnh viện lại phải nhận hai cháu bé, do ông bà ngoại làm đơn xin bệnh viện nhận cho. Đơn nói lý do là mẹ các cháu đã mất, bố có vợ khác, con khác, nên không chịu săn sóc hai cháu mà vịn về cho ông bà ngoại. Ông bà lại già yếu và quá nghèo nên không đủ khả năng nuôi!(2)

Và đây nữa là những đứa con dứt tình với bố mẹ:

- Bà Ng.T.T, 75 tuổi ở phường Quán Triều đã nhận một cậu bé 2 tuổi làm con nuôi, bà không có chồng con. Con đã có bằng đại học, làm công chức được bà cưới vợ cho rồi thì hai vợ chồng nó buộc bà ra khỏi nhà vì lý do: Bà già rồi, lẩm cẩm. Bà đành vào ở Trung tâm Bảo trợ xã hội.

- Cụ N.U.L vợ chết, có 2 con gái làm ruộng (một 45 tuổi, một 35 tuổi). Gia đình tương đối sung túc nhưng không nuôi bố, lý do: con rể không muốn bố vợ ở cùng. Con gái cả gửi bố vào TTBTXH

- Bà N.T.Đ, chồng chết năm 1980, có 7 con (hai con đã chết). Các con trưởng thành, cơ ngơi tương đối vững vàng. Sau khi chồng chết, bà sống nhờ đứa con gái út 40 tuổi. Nhưng hiện nay con gái quá khó khăn. và phụ thuộc chồng không có điều kiện chăm sóc mẹ, nên gửi mẹ vào trung tâm. Còn những người con khác thì lặng thinh không đoái hoài đến mẹ.(1)

Đó là những nỗi đau. Còn có những nỗi buồn. Nỗi buồn ở các đám cưới gần đây. Có chuyện cười đắt, cười rẻ. Có chuyện cưới rởm, cưới giả vờ. Từ ngày mở ra cơ chế thị trường lại nảy thêm một dịch vụ cưới chưa hề có truyền thống. Nỗi băn khoăn và buồn rầu thực sự lại rơi vào những người được mời đi dự cưới, vì lo lắng chuẩn bị phong bì. Đa số cô dâu cứ muốn có trang phục bà đầm xòe và gần như quên hẳn cái áo dài Việt Nam. Muốn thành cô đầm chính thức như vậy phải đi thuê áo thuê quần, mặc dầu theo phong tục xưa, đám cưới không có nổi cái áo phải đi thuê

thì nhục lắm. Đám cưới có cái buồn ấy thì đám tang lại có cái buồn khác, cũng tương tự như cái buồn trong Báo hiếu trả nghĩa cha, Báo hiếu trả nghĩa mẹ của Nguyễn Công Hoan. Gần đây, Bộ văn hóa đã phải ban hành một số điều qui chế, và nhiều địa phương đã cố gắng thí nghiệm để có được những đám cưới đám tang cho thật sự văn hóa. Song hình như cái nếp sống đua tranh, khoe khoang, hình thức và chủ yếu là vụ lợi (trục lợi thì đúng hơn) không thể ngày một, ngày hai mà sửa chữa được.

Vẫn có thể suy nghĩ để tìm nguyên nhân của những nỗi đau này. Lại vẫn phải qui về cái chủ nghĩa cá nhân đã chỉ đạo nhưng ý đồ, những hành động vô luân lý, hoặc khó chấp nhận ấy. Tất cả đều cho thấy, từ căn bản là thiếu ý thức về một nền văn hóa gia đình.

2. Đặt lại vấn đề văn hóa gia đình

Văn hóa gia đình, muốn đi từ nguồn gốc xa xôi, là cả một vấn mênh mông, toàn diện.

Phải trở lại với câu chuyện tình yêu, câu chuyện hạnh phúc và ước mơ của tuổi trẻ trong đó có bao nhiêu chuyện mơ mộng, bao nhiêu thăng trầm. Phải nêu vấn đề gia đình giới tính, giáo dục tình dục, mà lâu nay chương trình giáo khoa ở các nhà trường còn rất dè dặt. Phải giải quyết những quan niệm con trai con gái, bên trọng bên khinh, quan niệm con đàn cháu  đống ngày xưa thì rất cần, ngày nay lại phải bác bỏ để bảo đảm được kế hoạch dân số, kéo thêm luôn cả chuyện tránh thai, phá thai.

Tất cả những vấn đề ấy đều đòi hỏi những chuyện luận khác nhau, không thể đề cập đến cùng một lúc. Chỉ có thể có một nhận thức chung: Có quan niệm đúng mới hành động đúng được.

Thu hẹp phạm vi lại cho dễ bàn bạc, chúng ta trước nhất phải quan tâm đến gia đình với tư cách là một một tổ ấm. Nhưng tổ ấm này lại cũng là một thế giới vô cùng phức tạp, một thực tế vô cùng đa dạng.

Nói là đa dạng, vì cái tổ ấm ấy muốn thành tổ phải có ít nhất là hai người, song thông thường thì phải có đến ba hoặc bốn (là những gia đình hạt nhân). Có thể có những con số cao hơn (là những gia đình tam đại hay tứ đại đồng đường). 

Vậy là tổ ấm đã là một đơn vị gồm nhiều con người khác nhau. Khác nhau mà ở chung thì tất phải có sự va chạm, dù có tuyên bố một cách văn chương: “Ta với mình tuy hai mà một”. Không thể nào có chuyện đồng nhất như thế được! Giữa hai mảnh này, có nhiều sự khác biệt, và từ khác biệt sẽ tới mâu thuẫn. Đó là sự tất nhiên, không thể nào cưỡng lại. Có mâu thuẫn với nhau về tính khí, vì cái chất của từng người là khác nhau. Người này thuộc đởm dịch chất (Sanguinaire), người kia là lâm ba chất (Lymplatique). Có người ưa thâm trầm lặng lẽ, có người thích sôi nổi rộn ràng. Ngay một chuyện nhỏ như việc ăn uống: Tôi quen ăn mặn, anh thích ăn chua, không biết điều hòa thì sẽ là không hợp nhiều lần sẽ gây ra đối lập Tính khí mâu thuẫn nhau, sẽ đưa đến cả sự đối đãi cũng mâu thuẫn. Và từ đó, giữa các thế hệ trẻ già, các danh phận hay địa vị, các hoàn cảnh công tác cũng đưa đến nhưng mâu thuẫn tất nhiên như thế cả.

Nguyên nhân gây ra mâu thuẫn thường trực hơn cả là hoàn cảnh kinh tế gay go của các gia đình. Khởi đầu chỉ có chuyện tình yêu đôi trai gái thấy rất hợp nhau, rất cuốn hút nhau, nhưng khi thành vợ chồng, chỉ một sự tiêu pha đơn giản cũng dễ thành tranh luận, rồi thành xô xát. Lúc còn bé bỏng, con rất thương mẹ vì được mẹ bù trì, anh em rất thân thiết nhau, nhưng khi đã trưởng thành: Ai đầy nồi nấy thì con thấy bố mẹ là một gánh nặng, anh chị em ruột dễ gần gũi nhưng như bầu nước lã. Tình đã giảm, mà nghĩa cũng không còn. Ca dao Việt Nam đã rất lo cho cái nghĩa này:

Người dưng có ngãi thì đãi người dung

Chị em bất ngãi thì đừng chị em!

Thực tế là như vậy, nên câu chuyện gia đình là một câu chuyện riêng, gia đình phải tự giải quyết lấy, chứ không thể có một phương sách chung cho tất cả các gia đình được. Không có phương sách, nhưng vẫn có cẩm nang. Cẩm nang này, truyền thống văn hóa gia đình Việt Nam có sẵn: Đó là vấn đề tình nghĩa la đã nói trên đây. Phải nhận thấy rằng, chỉ có tình nghĩa mới đẹp được thứ chủ nghĩa cá nhân. Có phải ngày xưa chúng ta giàu có hơn bấy giờ, và vấn đề kinh tế trước đây không là nỗi băn khoăn day dứt của từng gia đình đâu! Có và có nhiều lắm. Nhưng người

ta đã biết trọng nghĩa, trọng tình nên không để cho đồng tiền hoàn toàn ngự trị, chi phối mọi sự ứng xử. Chế độ phong kiến rất nghiệt ngã đã đày đọa bao nhiêu số phận con người, nhưng các bà vợ, các đứa con đã phải cố găng chịu, bằng cách dùng tình nghĩa để dẹp bỏ chủ nghĩa cá nhân. Chế độ tư sản đã đề cao được ít nhiều nhân quyền, nhưng lại gạt bỏ mất cái tình, cái nghĩa. Phải chăng là xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay, chúng ta phải nắm cho vững cái nguyên tắc. Vừa bảo đảm được quyền con người, vừa phát huy tình nghĩa, thì mới có thể ổn định gia đình và khôi phục văn hóa gia đình. Xin đừng quan niệm chuyện tình nghĩa là câu chuyện, duy tâm, ảo tưởng. Cũng đừng quá nặng về lý thuyết “Kinh tế quyết định” để chỉ thấy vấn đề gia đình cũng là vấn đề đấu tranh giai cấp, vấn đề của việc chống nam quyền, chống phụ quyền. Từ xưa đến nay, ở Việt Nam ta, tình nghĩa luôn luôn là một sức mạnh, người dân Việt đã mặc nhiên hiểu câu nói của Mác: Văn hóa sau  khi vào sâu đại chúng thì có thể biến thành sức mạnh vật chất. Cũng nhờ sức mạnh vật chất  tình nghĩa  này mà gậy tầm vông đánh thắng được cả những máy bay siêu âm. Ta không hề duy tâm khi đặt cao vấn đề tình nghĩa. Người ta thường nói: “Không ai bàn chuyện tình nghĩa nghĩa tình hay trò đùa trong việc buôn bán và trong những cuộc ngoại giao”. Điều đó đúng, nhưng đây là gia đình chứ có phải là thị trường hay là bàn ngoại giao đâu!

Cái cẩm nang về bài trừ chủ nghĩa cá nhân, và vấn đề tình nghĩa ấy là điều cơ bản cho chúng ta xây dựng (hay khôi phục) văn hóa gia đình. Còn đối với từng thành viên trong gia đình, và đối với đơn vị gia đình nói chung thì vấn đề lại thành một vấn đề nghệ thuật. Tôi nghĩ: Sống trong gia đình là cả một nghệ thuật sống. Có một nghệ thuật, đồng thời là những bí quyết cho người làm cha mẹ, làm ông bà, làm con cái, và là bí quyết cho mọi gia đình. Nói nghệ thuật cũng là nói đến một cái gì tài hoa, ý nhị và cũng rất mênh mông. Tạm thời chỉ lướt qua đôi điều khơi gợi.

3. Nghê thuật sống trong gia đình

Nghệ thuật làm mẹ

Vấn đề này đã có nhiều người nói đến. Ta đã có nhiều tác phẩm lý luận bàn về thiên chức của người mẹ, bày vẽ cho người mẹ từ việc cho con bú mớm, dạy dỗ con, cả khi mang thai cho đến lúc tay bồng tay ẵm. Ta cũng có nhiều cuốn tiểu thuyết xây dựng những hình tượng bà mẹ bình thường mà vĩ đại, như những bà mẹ trong tác phẩm của Macxim Gooki (Nga) và Lê Văn Trương (Việt). Ta cũng đã được đọc nhiều trang hồi ký cho thấy những người mẹ trong lịch sử, dù có thể chưa hoàn toàn nhất là ở một vài người, và đợi chờ nhiều điều bàn bạc.

Nên chăng chúng ta cần phải xác định lại cho đúng vấn đề nam nữ bình quyền. Nam nữ bình quyền là một thành tựu của nhân loại tiến bộ. Dưới thời phong kiến và cũng có khi ở cả thời đại tư sản, phụ nữ đã bị coi thường. “Phụ nhân nan hóa, thập nữ viết vô”, quan niệm ấy của các nhà nho phải dứt khoát trừ bỏ. Ở những nước đã theo chính thể dân chủ, phụ nữ vẫn chỉ có số ít được tham gia chính quyền, được phân công những trách nhiệm lớn. Định kiến ấy, đến nay đã dần dần được xóa đi. Ở mức cao, ta được thấy nhiều bà tổng thống, bộ trưởng hoặc nữ giám đốc, nữ giáo sư rất xuất sắc. Điều đó chứng tỏ nữ cũng như nam, mỗi khi được giao việc, được bồi dưỡng thì có thể phát huy tài năng của con người. Bình quyền chính là ở đó. Không chị em không yếu kể cả về thể lực. Ta đã có những đội bóng nữ, những vận động viên nữ có tài năng. Họ. không bao giờ là con người yếu cả.

Nói chuyện bình quyền, còn phải lưu ý một điều, là do cái nếp sống hàng mấy ngàn năm, mà trong gia đình thường có tình trạng người chồng, người cha lấn át tất cả. Những chuyện bạo lực trong các gia đình xảy ra do cái nếp này. Như vậy, nói đến bình quyền là phải đặt đúng vị trí của người vợ, người mẹ trong tổ ấm. Phải cấm đoán những sự áp chế, thậm chí đến thượng cẳng chân, hạ cẳng tay của những ông chồng mất tư cách. Trong gia đình là như vậy mà ngoài xã hội, người phụ nữ cũng phải có vai trò, có chức nghiệp rõ ràng. Vợ phải phụ thuộc, phải ăn bám chồng, là điều không chấp nhận được.

Song phải nhận rằng, không thể quan niệm nam nữ bình quyền một cách đơn giản, chỉ nhìn trong phạm vi chính trị xã hội mà thôi. Có một cái quyền không thể xem là bình đẳng với nam giới được, mà phải đặt nó lên trên, trên cả nam quyền. Cái quyền này chỉ nữ mới có, chứ nam không thể nào có được. Cho tôi nói một cách bình dân,  bị chê là lạc hậu cũng được là quyền ấy là do trời cho! Trời không cho nam giới mà chỉ cho phụ nữ mà thôi. Đó là quyền làm mẹ (và cũng là cái quyền làm vợ). Tôi đố một ông nam giới nào tranh làm mẹ với bà xem có được không! Tất cả các quyền của con người, nam hay nữ đều có thể giành được. Còn cái quyền làm mẹ thì chỉ phụ nữ mới có. Nam giới không thể bình đẳng với nữ giới trong cái quyền này, mà phải tôn trọng cái quyền này, thì phải biết mà giữ gìn, phải làm cho đúng cái thiên thức ấy. Không nên vì mải đi theo những quyền khác, mà bỏ rơi hay sao nhãng cái quyền ấy.

Tiện thể, cũng xin nói thêm rằng, cái năng lực của người phụ nữ còn rất đặc biệt ở chỗ: Họ vừa có thể làm mẹ, vừa có thể làm cha, làm con. Đó là điều mà nam giới cũng không sao làm được, có cố làm thì cũng rất ít trường hợp thành công. Người phụ nữ Việt Nam rất có tài. Chồng đi vắng, chị có thể làm nhiệm vụ đứa con trai chăm sóc cho bố mẹ chồng. Chị có thể dạy bảo con cái về cả mặt đạo đức, về cả tri thức sách vở, tri thức nghề nghiệp:

Ngọt bùi thiếp đã hiếu nan

Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân.

Mấy ông nam giới không thể nào làm được những công việc như thế. Xin các đấng mày râu chúng ta đừng đòi bình quyền với các bà, mà trái lại, phải kính trọng, phải biết cái quyền này là thiêng liêng, là lớn lao đến mức nào. Kính trọng thực sự, chứ không phải là nhường. Anh có thể có cái quyền ấy, nhưng anh không nhận để giành cho người khác thì mới gọi là nhường. Chứ đây là một thiên chức, anh chỉ có thể kính trọng, phải vâng theo nó mà thôi.

Bên cạnh cái thiên chức làm mẹ ấy, người phụ nữ cũng có một cái quyền, và cũng là quyền trời cho, là cái tư cách của người đẹp. Khi ta nói đến chữ phái đẹp, là ta nghĩ đến cái đặc ân này của tạo hóa. Giới nữ, người nào cũng đẹp, kể cả những người xấu xí như cô Đông Thi hay bà Chung Vô Diệm, vẫn có một sự hấp dẫn nhất định. Có thể có người không mặt hoa da phấn, nhưng cái chất riêng của nữ giới vẫn là tươi mát dịu dàng, dù ở những cô thật là khó tính. Phụ nữ phải biết điều ấy, phải bảo vệ và nâng cao cái đẹp ấy của mình. Không lợi dụng cái đẹp để làm những điều giảm giá, nhưng phát huy cái đẹp thì có thể đóng góp được nhiều điều hữu ích cho mình và cho cả cộng đồng, nhất là cái cộng đồng mà người mẹ là một thành viên chủ chốt.

Nói như vậy, chính là tôi muốn nói đến cái văn hóa gia đình, phải chăng là do các bà mẹ tạo nên và vun đắp. Có một bà mẹ tốt, bà mẹ đẹp trong gia đình, thì gia đình ấy là một gia đình văn hóa rõ ràng.

Thực hiện được nhiệm vụ cao quí này, phải có một nghệ thuật làm mẹ hẳn hoi, song thực là khó nói trong vài dòng ngắn ngủi về một đề tài quan trọng này. Hình như ta có thể khái quát trong hai phạm vi: Người mẹ đối với bản thân mình, và người mẹ đó với con cái.

Với bản thân, người mẹ phải sẵn sàng một tình thương không bờ bến. Điều này là chung cho cả nhân loại, xưa cũng như nay. Mà cũng không chỉ là của nhân loại loài vật cũng biết thương con, kể cả những loài hung ác như hổ dữ. Đối với con người, tình thương phải được quan niệm một cách đúng đắn, một cách thực sự là văn hóa. Người bình dân Việt Nam cũng tìm ra kinh nghiệm: Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho ngon. Thương con cho đúng cách, là cả một vấn đề. Người mẹ không có kiến thức về cuộc sống, không có hướng đào tạo tương lai của con, thì tình thương chưa chắc đã đi đến kết quả tốt đẹp. Nhiều tấm gương của các bà mẹ trên thế giới và trong lịch sử Việt Nam đã chứng minh điều ấy.

Có lẽ một nét riêng trong phẩm chất người mẹ Việt Nam là sự tu dưỡng một cái đức. “Con nhờ đức mẹ” là quan niệm cổ truyền của nhân dân ta, và quan niệm ấy, nhận xét ấy rất đúng. Chắc rằng các bà mẹ trên thế giới cũng đều có phẩm chất này, nhưng hình như họ đã không tổng kết, không khái quát và không có cái từ "đức mẹ" , như nước ta. Ta nên bảo tồn lấy cái nét đặc sắc này. Nếu tôi không lầm thì giờ đây, khá nhiều bạn trẻ được làm mẹ không nhớ (hoặc không biết) đến cái đức này. Chỉ một hành động nho nhỏ, một sự suy tính bình thường, người mẹ trong truyền thống Việt Nam vẫn nghĩ đến: Làm hay nghĩ gì đi nữa, thì cũng phải để

phúc cho con. Phúc là cái gì rất trừu tượng, nhưng lại rất cụ thể trong lâm thức con người bình dân xứ ta (xem chương I). Hình như các bà mẹ trong thế giới tư sản cũng ít nghĩ đến điều này. Và bây giờ, nói đến phúc đức, dễ bị xem là cổ hủ. Song thực tế là xưa kia, các bà mẹ Việt Nam không được học hành, không có kiến thức cao rộng, cũng không có được cuộc đời êm ả, chỉ nhờ tin vào một cái phúc đức nào đấy, mà họ đã ở hiền gặp lành, đã tạo nên bao nhiêu thế hệ công dân hữu ích cho nước nhà. Cũng có người có thể quan niệm phúc đức là một cách an ủi cho những người nghèo, những kẻ bị trị. Bọn cầm quyền, bọn giàu có mặc nhiên lợi dụng sự an ủi đó để dễ bề thống trị và bóc lột. Điều đó cũng có

một phần, nhưng cũng có khá nhiều trường hợp quyền uy và thế lực kim tiền của chúng bị sụp đổ, và vẫn được qui vào kết quả vô phúc đấy thôi. Vả chăng, sự tích đức của các bà mẹ có gì là lạ đâu: Chỉ là sự chú ý làm việc thiện, sự giữ gìn tư cách thanh cao, sự bảo tồn nề nếp của gia đình. Nghệ thuật làm mẹ chủ yếu phải là ở sự tích đức ấy. Trong cuộc sống mới, đặt vấn đề tích đức ra với các bà mẹ cũng là điều cần thiết. Tự bản thân bà trong xã hội bán mua, đừng có làm những việc đâm thùng tháo đáy. Những cái đừng ấy chính là sự tích đức của bà, không chỉ bảo vệ cho chồng mà còn tác dụng lâu dài và sâu sắc với những đứa con của bà nữa! Còn một điều nữa đối với bản thân, là bà mẹ vẫn cần luôn luôn đừng quên cái tư cách người đẹp của mình. Trên đây ta đã nói qua, quyền làm người đẹp là một cái quyền thiêng liêng và riêng cho phụ nữ. Khi được làm mẹ, người phụ nữ cũng không được phép quên cái quyền này. Đây là điều đa số các bà mẹ trong truyền thống là hay quyên nhất. Các bà nghĩ rằng đã có con thì phải lo cho con, và đã thành vợ, thành mẹ thì “không còn người lại đẹp cùng ai?”, - đó là một ý nghĩ sai lầm. Đã có chồng, phải dẹp để giữ được chồng. Đã có con càng phải đẹp: Đẹp cho con. Hoàn cảnh gia đình tất có khó khăn, sự trang điểm nhiều khi không đúng chỗ. Nhưng bà mẹ đẹp về hình thức (có cả sự gọn gàng, sạch sẽ) là cái gương sinh động nhất cho các con mình. Và đẹp về tinh thần, lại càng có tác dụng sâu sắc đến việc giáo dục con cái.

Sau những vấn đề đối với bản thân như vậy, nghệ thuật làm mẹ chuyển sang nhiệm vụ đối với con cái. Bà mẹ luôn luôn là cô giáo trong suốt cuộc đời của con: Dạy con từ thuở còn thơ câu nói ấy là một chân lý tuyệt vời. Và ở đây, vẫn phải công nhận là bài học được ghi trong các sách Gia huấn  ngày xưa quả là thấu đáo (chương II). Xin không phải thuật lại, không kể lể gì thêm. Nhiều người cứ nghĩ rằng, loại sách gia huấn như vậy quá đậm mùi vị phong kiến, hoặc đi theo lễ giáo hẹp hòi cứng nhắc của các nhà nho. Thực ra không phải như vậy. Nho giáo đã khái quát thành những tín điều, nhưng lại có cái hay là những tín điều ấy có khả năng diễn giải theo quan niệm khác nhau ở từng thời đại. Cách hiểu chữ trung hiếu của Hồ Chí Minh để hôm nay có thể giải thích công dung ngôn hạnh theo cách hiểu mới. Tất nhiên ta cũng có thể chờ đợi một bộ sách Gia huấn mới. Rất mong các nhà tư tưởng, các thầy giáo và các ông cha bà mẹ ở Việt Nam hiện nay, sớm soạn được các sách Gia huấn này. Ngoài ra, có nhiều sách chuyên môn: Phương pháp nuôi con theo những thành tựu mới của y học, sách dùng cho các lớp mẫu giáo, sách nữ công gia chánh, sách vphép ứng xử của người mẹ đều phải biết để tiếp thu và vận dụng trong nghệ thuật làm mẹ của mình.

Nghệ thuật làm cha

Thường hay có ý nghĩa rằng cha không quan trọng bằng mẹ, vì mẹ luôn luôn gần gũi con cái hơn, dễ gắn bó với con cái hơn là cha lúc nào cũng nghiêm. Ấy chỉ là một cách để người xưa lưu ý về phương pháp giáo dục con cái khác nhau giữa cha và mẹ, chứ sự thật thì nhìn theo văn hóa gia đình, vai trò người cha rất lớn.  

Trước hết, người cha có vị trí đặc biệt trong việc bồi dưỡng nâng niu lúc bé ngay từ thuở lọt lòng, thời gian mà ta tưởng rằng con nằm trong vòng tay của mẹ nhiều hơn thì chịu sự mẫu giáo, nhiều hơn. Mới đây, giáo sư Florence Larbrell (Pháp) đã viết cuốn sách: “vai trò của người cha trong sự phát triển của trẻ” đã cho thấy, thật ra ngay trong thời kỳ trứng nước, con cái chịu sự giáo dục của cha rất sâu sắc. Cũng là cái nhìn âu yếm cả, nhưng ở người có tác dụng khác nhau. Khi có một tình huống xảy ra, bé sẽ phản ứng khác nhau tuỳ theo bố có mặt hay mẹ có mặt. Nếu mẹ đứng cạnh, bé sẽ khóc òa lên, sợ hãi và chờ được dỗ. Còn nếu bố chứng kiến, bé sẽ, tỏ ra can đảm. Bé đang chơi một trò gì bị vướng, hoặc phải loay hoay, mẹ sẵn sàng giúp đỡ bằng cách cầm tay chỉ dẫn, nhưng bố chỉ đứng nhìn mặc cho con tìm tòi, chỉ nhắc con: “Như thế chưa được đâu!” Cùng chơi bóng, mẹ chơi theo kiểu nhân nhượng, bố sẽ đá bóng ngược chiều bắt con phải chạy thêm. Mẹ chỉ dắt con cho con tập đi, bố có thể bế con mà tung lên cao để con được kích động, có thêm hưng phấn. Người ta đã nghiên cứu và nghiệm ra rằng trong khi nói chuyện, người bố nhắc tên con nhiều hơn mẹ. Vậy là, ngay từ buổi đầu, bố đã tạo ra cho con những thử thách, những hoàn cảnh mới, để giúp con tự khẳng định mình hơn.

Khi con lớn lên dần, những sự khác nhau trong giáo dục của cha và mẹ càng rõ rệt. Mẹ rất hiền lành, ngay cả lúc tỏ ra nghiêm khắc nhất. Cái roi của mẹ vẫn là cái roi âu yếm. Ở người cha có khi không cần đến roi, mà vẫn có một tác dụng rất mạnh mẽ, khiến con phải sợ hơn. Tục ngữ cũng đức kết tình hình này rất sinh động: “Mẹ đánh một trăm, không bằng cha cha hăm (hay ngăm) một tiếng”. Hăm hay ngăm có nghĩa là răn đe. Cha có cái uy nhất định. Song chỉ nên tỏ cái uy ấy bằng thái độ, bằng cử chi, chứ không nên bằng roi vọt, đánh đòn. Giở cái trò vũ phu ra với vợ hay với con, là hành động rất vô văn hóa, chỉ chứng tỏ sự bất lực kém cỏi của mình, cậy thế cậy quyền mà cư xử một cách kém văn minh mà thôi.

Chính do cái hoàn cảnh đặc biệt (mẹ gần con nhiều hơn) mà sự xuất hiện của cha đến với con thường gây ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc hơn, không tạo ra cho con cái tâm lý “nhờn”. Thấy cha là thấy một biểu hiện của cái uy, cái mạnh. Do đó, cha phải tạo ra cho mình một thái độ nghiêm đúng mức . Nghiêm mà vẫn hiền hòa, âu yếm. Nghiêm để răn đe, để khuyến khích chứ không phải để doạ nạt và xa cách. Ở mẹ là sự vỗ về liên tục, ở cha phải là sự cổ vũ, động viên. Cái nhìn, lời nói của cha thường được ghi nhớ rất sâu sắc. Đáng buồn cho những người cha nào đấy, không biết

tìm lời khuyên con. Nếu khuyên như lời châm biếm của ca dao: “Con ơi nghe lấy lời cha, một đêm ăn trộm bằng ba năm làm” thì lại càng buồn hơn nữa.

Thật ra lời cha khuyên luôn luôn soi sáng đời con. Con biết ơn cha, không phải chỉ ở cái ơn sinh thành dưỡng dục, mà là những lời khuyên ấy:

Lời cha dạy khắc xương để dạ

Mấy gian lao con chớ sai nguyền

Tuốt gươm thề với hoàng thiên

Trả xong thù nước là đền ơn cha!

(Bút quan hoài - Trần Tuấn Khải)

Do đó, nếu trong gia đình có người cha không đủ tư cách thì sẽ là tai hại. Cha phải thật sự là gương mẫu, mới giáo dục con và mới làm cho gia đình sống có nề nếp được. Giai thoại các nhà nho Việt Nam có một chuyện rất hay: Có một ông bố đi hát cô đầu, bước vào nhà thanh lâu, thì gặp ngay cậu quý tử ngồi đó, đang mơn trớn chính cái cô bồ quen thuộc của bố lâu nay. Bố bực mình, đọc ngay một câu đối tập Kiều để mắng con:

- Thôi còn nói chi con!. Dám đem trần cấp dự vào bố!

Cậu con trai không chịu kém, đọc ngay câu đối lại:

- Đã cho vào bậc bố! Mượn màu son phấn đánh lừa con.

Gia đình như thế, mặc dầu “chữ nghĩa bề bề”, nhưng thật sự là gia đình vô văn hóa.

Cũng không phải chỉ ở nước ta đâu, trên thế giới, ngay những năm cuối thế kỷ 20 này cũng đã quan tâm đến vai trò người bố. Ở nước Anh, có một phong trào “bỏ phiếu” cho những người cha. Người nào xứng đáng sẽ được phát một tấm thẻ: “Một ngày làm Cha”. Rồi trong cuộc bình chọn ngày 9 - 6 - 1997, theo số liệu điều tra của nhà tâm lý học Harris thì cứ trong số 5 người được hỏi thì có một người cho rằng “Thái tử Charles không có đủ phẩm chất để làm một người cha”, không được tấm thẻ ấy. Và ông được xếp vị trí thứ ba trong danh mục những ông bố tồi nhất nước.

Điều quan trọng nhất, là người cha phải biết giữ lấy cái nề nếp của gia đình: Tự mình giữ gìn và tập cho cả vợ con cùng chung sức gìn giữ. Phải luôn luôn nhắc cho con cái biết sự nghiệp của tổ tiên, biết các bà con họ hàng, chỉ ra những tấm gương đẹp đẽ của những người đã khuất và những người đồng thời. Những ngày giỗ tết là dịp để cả nhà ôn lại quá khứ, rồi từ quá khứ mà vạch cái hướng đi của cả gia đình. Lớp trẻ thường hay vô tâm, cha phải tập cho các con có sự hữu ý nhất định. Có nhiều cái thường không để ý: Thí dụ một buổi tổ chức lễ sinh nhật, chỉ thấy họ hàng bè bạn kéo đến: Thắp nến, ăn kẹo, uống bia, chứ không một ai kể cho biết cái ngày sinh nhật ấy đã diễn ra trong hoàn cảnh nào và những năm tháng qua đã diễn tiến ra sao. Nhiều gia đình có ngày giỗ, nhưng thật ra cũng không biết là giỗ ai v.v. . . Chuyện rất nhỏ nhưng có tác dụng giáo dục gia đình rất lớn, thường bị bỏ qua, rồi lại phàn nàn là đạo đức xuống cấp. Đó là chưa nói đến, có thể có người cha không tìm được nét riêng của gia đình mình, để nhấn mạnh và lưu ý cho con cái phát huy. Bản thân không biết tự hào về truyền thống thì lấy đâu mà giáo dục truyền thống. Cần phải nhắc lại những câu tục ngữ Việt Nam, rất có ý thức đề cao tấm gương của cha: “Cha nào con nấy”, “Còn nhà tông không giống lông cũng giống cánh”, là những kinh nghiệm không những đúng trong phạm vi khoa học tự nhiên mà cả trong phạm vi khoa học xã hội. Tục ngữ cũng đã phàn nàn về những người con không nối được chí của cha, không giữ được nghiệp nhà: “Cha làm thầy, con đốt sách”; quả là điều tai hại đáng buồn. Tất nhiên, cha phải đáng bậc cha, chồng phải đáng bậc chồng, thì con mới thành con được. Vẫn có nhiều trường hợp con không hợp với cha, hoặc con đi khác con đường cha đã đi. Đây cũng là vấn đề tê nhị, mà người cha phải có tư tưởng đúng, có nhận định đúng thì mới làm gương mẫu cho con được. Ta không nói đến những người cha tha hóa, hay lạc lối trong cuộc sống. Trong những hoàn cảnh ấy trách nhiệm nặng nề lại ở những người con. Còn ở các trường hợp thông thường: Cha già đi, con lớn dần, thì tư cách đúng đắn nhất của cha là phái tự biết mình để điều hòa trong ứng xử. Phải biết những nhược điểm của tuổi già, để có thể tránh được những mâu thuẫn về tuổi tác, về khuynh hướng. Biết những hạn chế. song không vì thế mà mặc cảm về những sự bất lực của mình. Cha đã già, không thể theo kịp con trong bước đường phát triển, thì đó là một vinh dự, một sự tự hào: “Con hơn cha, nhà có phúc”. Song như thế không phải là cha không thể giúp ích gì cho con trong cuộc sống, ngay cả trong thế giới bon chen. Phải biết tôn trọng sự tự do của con để có thể vẫn là cha, mà vẫn là bạn của con. Những đứa con thông minh, nhận ra được điều này không khó lắm.

Nghệ thuật làm ông

Vào năm 1877, nhà văn Vichto Huy gô đã viết một cuốn sách hay: Nghệ thuật làm ông. Đây là một tập thơ, chủ yếu là thơ về trẻ em. Khi về già chịu nỗi hiu quạnh (các con của Huy gô đều mất trước ông), Huy gô đã tập trung tình thương vào hai đứa cháu bé là Giorgiơ và Giăng, nên đã làm cả một tập thơ về chúng. Đối với ông, hai cháu này một đứa là “Người dẫn đường”, một đứa là “Nguồn ánh sáng”. Ông đã nổi tiếng là một người bạn lớn của trẻ con. Ở đây ta không có điều kiện khai thác hết cả tập thơ để tìm ra được những lời chỉ dẫn khôn ngoan, chân thành mà trí tuệ. Đành chỉ dựa vào thực tế của người ông, người bà trong xã hội ngày nay để lìm sâu một vài kinh nghiệm mà thôi.

Đã thành ông thành bà, có cháu có chắt, có nghĩa là ta đã bước sang tuổi già. Điều quan trọng nhất là những người già nên có ý thức về những sự trái khoáy, những điều bất cập của mình. Có lẽ vì tuổi tác vì điều kiện sinh lý, mà người già chúng ta thường hay có những cái ngược đời. Ban ngày hay ngủ, ban đêm lại hay thức. Chuyện xa thì nhớ, chuyện gần thì quên. Thích cháu hơn con. Nhiều nghi ngờ hơn là nhiều suy nghĩ. Kém khả năng lao động nhưng lại hay tranh lấy việc mà làm. Luôn luôn tô hồng quá khứ, đề nhìn hiện tại với cảm giác nặng nề. Nặng đầu óc công thần (kể cả người không có công trạng cũng cứ tự hình dung là mình có công lớn). Thích được bình yên thầm lặng, nhưng lại xót xa về nỗi quạnh hiu v.v. . . Nếu không biết mình vốn có những cái trái khoáy, mà cứ để cho nó phát triển thì nhất định sẽ nảy ra va chạm, sẽ khiến cho con cháu không muốn đến gần mình.

Có sự tự ý thức về những điểm trên, còn phải có ý thức về sự hạn chế của mình nữa. Đã rõ ràng là sức già không thể so được với sức trẻ. Trên đà phát triển, lớp già chúng ta không thể nào theo kịp được với những lớp sau. Do đó, không nên khinh thường lớp trẻ, đừng nghĩ rằng bọn cháu chắt bao giờ cũng ở dưới tầm mình. Chúng nó có những nhu cầu khác với lớp già, và đó là những nhu cầu phải được tôn trọng, cố nhiên trong thực tế, trong số nhu cầu mới có những cái thật chướng tai gai mắt, nhưng phải tìm cách chứng minh dần, phải ngăn cấm một cách có nghệ thuật, chứ không thể bốp chát: Lửa cháy lại đổ dầu thêm. Rất tôn trọng sự tự do của lớp trẻ, nhưng vẫn phải làm được vai trò cố vấn. Cố vấn để loại trừ những sự tha hóa, để phát huy thêm được khả năng của những con người trai trẻ trong vòng ảnh hưởng của chúng ta.

Mà muốn được như thế thì những người ông, người bà phải luôn luôn nghĩ đến sự nâng cao chất lượng tinh thần và vật chất của bản thân mình. Chống lại với cái già, cần tăng cường sức khỏe, viện lại đã có nhiều tổ chức cho các ông bà già tập luyện, đo là một điều hay. Trong sự tập luyện này: có những cụ thích được biểu diễn cho công chúng xem, thích thi chạy thi bơi để giật giải: Điều ấy có thể hoan nghênh được cả, miễn đừng làm quá sức thì thôi. Trong nhà, nếu có một ông hay một bà già, còn đi được xe đạp, còn có thể đi bộ dắt các cháu đến nhà nọ nhà kia, là một điều hay rất nên cổ vũ. Ở các thành phố, thị trấn, những hình thức này đều thuận tiện. Còn ở nông thôn, vẫn cần khuyến khích các cụ và các cụ tự tạo lấy việc làm: Đan cái rổ, cái rá, tỉa cành cho hoa, trồng cây dọn vườn, đều là các việc tuổi già có thể cáng đáng được. Song phải chú ý: Người già lao động để thêm vui và để tăng cường sức khoẻ, chứ không để làm lợi cho gia đình, không phải để làm hộ cho cháu con. Và con cháu phải biết điều này đừng bắt các cụ làm quá sức. Một mẹ già bằng ba đứa ở  là điều không nên.

Luyện tập để giữ gìn, để tăng cường sức khoẻ chỉ là một yêu cầu Còn có cả yêu cầu học tập nữa. Người già cũng phải học. Có học mới giàu được. Đã có cuộc điều tra tìm xem nhân tố nào quyết định sự giàu nghèo của người già, câu trả lời là: “Mẫu nghiên cứu cho thấy trong nhiều nhân tố ảnh hưởng thì học vấn biểu hiện chi phối quyết định nhất”(1). Tuổi già không được đến trường, song những sách báo, những câu chuyện trò với lớp trẻ chính là bài học ngày ngày nâng cao trình độ của mình, để mình có thể cập nhật được với các vấn đề thờ sự. Một người ông, người cha có ý thức, có thể học tập ngay cả các con cháu của mình. Nhiều khi nghe một cháu bé hỏi một câu ngây ngô, ông có thể nghĩ ra vấn đề lớn. Những đứa con, đứa cháu đã làm việc, chúng cũng dễ gợi ý cho mình những bài học về cuộc sống hiện tại, ngay cả khi chúng chê mình là bảo thủ. Học vấn thật không cùng. Chính do sự học bằng cách nghe nhìn, cách tích luỹ này mà ta làm được vai trò cố vấn đã nói trên kia. Trường hợp ông hay bà là một trí thức thì cách học tập này lại có thêm nhiều hiệu nghiệm.

Có một điểm khá thiết thực trong nghệ thuật làm ông (bà thì có cơ sở hơn) - là ông phải biết chơi với cháu. Không rõ tôi có sai lầm không. nhưng tôi có cảm tưởng rằng hình như giờ đây, rất nhiều ông không biết ru cháu (cả những bà mẹ trẻ cũng không biết ru con) và không biết chơi với cháu. Các cụ ta ngày xưa, trái lại rất thành thạo việc này. Những ông già có học vấn nhất định, thuộc lòng các bài ru em của Cụ Yên Đỗ, những đoạn Gia huấn ca và cả những bài hát ru con thời cách mạng nữa. Tiếng ru của ông không du dương được bằng tiếng ru của mẹ, của chị, nhưng vần đằm thắm ngọt ngào, vì ngay lúc ấy ông đã được hóa thân. Còn tham gia vào trò chơi của trẻ? Tôi xin kể ra đây một mẩu chuyện của vua Henri IV.

Có vị quan vào nội cung gặp ngay lúc nhà vua đang bò quanh sàn nhà, trên lưng là một em bé ba bốn tuổi dang cười như nắc nẻ. Viên quan cố nén nụ cười:

Sao Hoàng thượng lại nuông chiều em bé như vậy, lại bò ngay dưới đất, làm mất tư thế nhà vua?

Henri IV vẫn không đổi hành động và dáng điệu, ngẩng đầu lên, hỏi lại:

- Thế quan đại thần của tôi ơi, ông có cháu nội không?

- Dạ có ạ.

- Vậy thì để trẫm bò tiếp một vòng nữa  cho cháu nó chơi. Sau đó ông nói gì hãy nói.

Hình như giờ đây, chúng ta đều không được làm vua như Henri IV có lẽ vì không biết chiều cháu như ông.

Một điểm nữa trong nghệ thuật làm ông, là ông phải luôn luôn giữ sự công bằng trong cách đối đãi với con cháu. Điều này ca dao đã nói rồi. Một bài dặm Nghệ Tĩnh  có câu: “Đừng đứa ghét, đứa thương, đừng bấc chì nặng nhẹ” . Nói thì dễ, nhưng thực tế lại khó vô cùng. Vì con cũng như cháu, có đứa hợp với ông bà, có đứa lại tự nhiên có phần ngăn cách (hoặc vì tính nết, vì cử chỉ, có cả khi vì dáng dấp bề ngoài). Nhưng ông bà phải công bằng với tất cả các cháu, yêu quý và gần gũi như nhau. Sự trưởng thành về thể chất, về học vấn, về nghề nghiệp của cháu dù nhỏ dù to đều là niềm vui và sự tự hào của ông bà cả.

Cuối cùng, có một điều hình như ít được mọi người tán thành, song có thể là điều cơ bản. Không nên đòi hỏi, và cũng không nên trông chờ ở một sự báo đáp công ơn nào đó. Tự mình tìm lấy một sự tri túc riêng, không nên so đo mình được đứa nào cho cái gì. Chính sự tri túc này sẽ khiến cho con cháu giác ngộ và sẽ cố gắng trang bị và bồi dưỡng cho ông. Trường hợp bọn con cháu vô tâm thật ra là rất ít. Với mình, không đòi hỏi sự báo đáp quà bánh, nhưng với tổ tiên, với người người “khuất mày khuất mặt”   thì ông phải hơn ai hết làm cho con cháu thấy được cái nòi, cái phúc của nhà mình. Tôi muốn những đứa trẻ phải vừa là con cha, lại vừa là cháu ông, chúng không bị mặc cảm là xuất thân từ một gia đình đê cấp. Chúng phải được đoàng hoàng hát to những câu như: Vì ai, nay mới có mình!

Nghệ thuật làm con

Thật tình mà nói, vấn đề đạo làm con đối với cha mẹ, đã được nêu rõ trong Nho giáo rồi, mà vì qua thời gian, các môn đồ Khổng tử đời Hán, đời Tống đã biến nó thành một thứ lễ giáo khắc nghiệt, làm cho con người ta đâm ra có thành kiến với cụ Khổng. Những tấm gương người con hiếu được đề cao thành khuôn mẫu, có lắm nhân vật gàn dở, thậm chí đến vô nhân, như những anh chàng giết con nuôi mẹ, nằm trần cho muỗi đốt v.v . . . Không ai học tập được các gương ấy. Song cũng phải công bằng mà nói là vẫn có những mẩu chuyện khá cảm động, mà ngày nay vẫn có thể lấy làm gương (sẽ nói dưới đây). Muốn hiểu đúng Nho giáo, đúng chữ hiếu thì phải đi hẳn vào những lời dạy của Khổng Tử - chỉ một mình Khổng Tử mà thôi. Học chủ nghĩa Mác thì chủ yếu là phải

theo nguyên văn của Mác, chứ những nhà mác xít sau này vẫn có chân ngụy khác nhau. Học Khổng cũng như vậy. Riêng đối với chữ hiếu, Khổng Tử quả thật đã xem nó là một nghệ thuật hẳn hoi, chú không đặt thành một kiểu đạo đức giáo điều, khô cứng. Ông giảng chữ hiếu cho học trò, tuỳ theo tình hình hay nhận thức của từng người để hình dung chữ hiếu một cách khác nhau. Đó là nghệ thuật chứ còn gì nữa. Với người này (Tử Du). Ông lưu ý sự cung kính, với người kia (Tử Hạ) ông dặn phải hòa vui hoàn cảnh  với người khác nữa (Mạnh ý Tử) ông bảo đừng làm trái. Vậy đạo hiếu phải biết biến hóa tuỳ theo hoàn cảnh , chứ không thể khư khư theo một thứ giáo điều.

Còn một vấn đề nữa, thường người ta cũng hay vu oan cho Khổng Tử. Có người bảo Khổng Tử bắt con phải ở lỳ trong nhà để phục vụ cha mẹ đang còn sống. Đó là vì người ta đọc câu: “Phụ mẫu tại đường bất khả viễn du” (cha mẹ còn sống không được đi đâu xa) mà bỏ mất bốn chữ sau cùng: “du tất hữu phương” (có đi phải cho cha mẹ biết là đi đâu). Rồi lại có câu, người ta không hiểu được, nên cố ý giảng sai đi, để biến Khổng Tử thành còn người mâu thuẫn. Thí dụ ông nói: “Sư phụ mẫu cơ gián, kiên chí bất tòng, hữu kính bất vi, lao nhi bất oán”, mà họ dịch là: Thờ cha mẹ nên biết khuyên can, nếu cha mẹ không nghe, thì phải kính mà không trái ý, cha mẹ nó đánh đập cũng không được oán hận. Giảng như thế hóa ra Khổng Tử bảo học trò cứ nhắm mắt theo cái sai của bố mẹ ư? Người bình thường cũng chẳng làm vậy, huống chi ông là một nhà tư tưởng. Thật ra mấy chữ bất vi phải hiểu là không xúc phạm, chữ lao phải hiểu là khó nhọc, lo âu. Hiểu như thế thì giờ đây, người con đứng đắn thấy cha phạm pháp có thể có cách ứng xử thỏa đáng. Cha sai, cha sẽ có lỗi với pháp luật, hoặc với lương tâm. Con thương cha thì đừng xoáy vào nỗi đau ấy nữa. Rõ ràng, Khổng Tử là một nhà giáo đục sâu sắc, biết xử lý đạo hiếu theo hoàn cảnh, và nhất là biết thể tất nhân tình. Những người con ngày nay nên trở về với nghệ thuật làm con mà ông Thầy này đã hướng dẫn (nhắc lại, phải theo cái chính truyền của Khổng Tử, chứ không theo môn đồ của ông, nhất là theo các vị trong hàng ngũ Tống Nho).

Học tập được nghệ thuật ứng xử trọng đạo hiếu, những người con thời đại ngày nay vẫn có thể đối đãi với cha mẹ một cách thỏa đáng và đúng đạo lý. Con cái phải thấy mình có trách nhiệm đối với cha mẹ, chứ không đẩy cái trách nhiệm ấy cho ai được. Lấy vợ lấy chồng rồi, vin vào lý thuyết gia đình hạt nhân để cho cha mẹ sống hiu quạnh, hoặc đẩy cha mẹ vào các trại tập trung, nhà an dường là điều không thể chấp nhận được. Tệ hơn nữa là có những người con bỏ rơi cha mẹ, không nhìn đến, viện lý do nọ đến lý do kia. Cái lý do chính là chủ nghĩa cá nhân đã biến đứa con được sinh thành, dưỡng dục năm nào thành một tên bội bạc thì không bao giờ đứa con dám nhận.

Người ta thường bài bác cái quan niệm đại gia đình, cho truyền thống là cái gì ràng buộc, kìm hãm thậm chí đến đày đọa con người . Người ta đã hiểu đại gia đình có nghĩa là phải có một gia đình lớn quây quần hết thế hệ này sang thế hệ khác, dưới sự chỉ đạo của một ông chủ già cả, độc đoán, hủ lậu. Thật ra hiểu thế là không đúng với truyền thống. Không có đất đai nào tụ hội được cả một khối gia tộc ngày ngày cứ phình ra như vật. Con cái lớn lên, người Việt Nam đã biết phải cho chúng tách ra. Phong tục ta vẫn có cái nếp là cho con cái ra riêng nghĩa là ở riêng, tách khỏi gia đình của bố mẹ. Có thể ở riêng rất xa, chỉ cần đừng quên đại gia đình là được. Ca dao đã dặn dò:

Gần thì sớm viếng tối thăm

Xa xôi cách trở một năm một lần

Ca dao cũng cảnh cáo:

Mồng năm ngày tết không đáo đến cửa nhà thờ

Còn hiếu trung chi nữa, mà chờ rể con!

Như thế rõ ràng, truyền thống của chúng ta chỉ yêu cầu con cái phải chăm sóc bố mẹ, phải nhớ đến tổ tiên. Yêu cầu này là điều rất dễ thực hiện. Sao lại có thể có những đứa con hư đốn đến mức mải mê theo tiền bạc, theo cuộc sống phù hoa, hoặc theo các hạnh phúc cá nhân ở đâu mà quên, hoặc cố ý không làm được điều đơn giản ấy.

Phải công nhận một điều là, một khi cha mẹ đã già cả thì ý nghĩ, nếp sống của các cụ rất khác, so với các thế hệ sau. Chuyện trái tính trái nết là chuyện rất bình thường. Chiều được những cái trái ấy là cả một nghệ thuật. Muốn có nghệ thuật này, người con phải có nhận thức và có biện pháp thích hợp. Có thể có mấy hướng cụ thể sau đây:

Phải ý thức rằng những chuyện trái tính trái nết này là nhược điểm tất nhiên của tuổi tác. Nhược điểm chứ không phải khuyết điểm. Đừng quên rằng rồi đây đến lượt về già, ta cũng sẽ có những nhược điểm như thế. Lúc ấy thì con cháu ta sẽ ra sao? Khổng Tử đã bày cho ta một mẹo: “Hữu kinh bất vi”- nên kính trọng mà đừng xúc phạm? Rất đúng. Người già thường hay cố chấp, cáu gắt, nghi ngờ, hay mủi lòng và chạnh lòng. Ta biết vậy và đừng nên xúc phạm. Cứ để yên cho các cụ (thế là kính), đừng lý luận, đừng cãi nhau với các cụ (thế là bất vi). Những chuyện trái này nhiều khi rất buồn cười. Nghệ thuật của con là khai thác cái buồn cười, chứ đừng đi vào cái khó chịu.

- Có một kinh nghiệm rất hay là, nên cố gắng dành cho các cụ những không gian riêng (nhà nghèo, hộ chật vẫn có thể tạo được không gian này) đừng nên xâm phạm. Nên cho cháu nhỏ tuổi gần gũi các cụ, chứ đừng để các cụ tham gia vào việc của mình. Gần các cụ bằng sự chăm sóc, chứ không nhất thiết phải để các cụ bàn hạc hay hành động. Với không gian riêng ấy, cố gắng ứng đáp những nhu cầu riêng: Một chén trà, một khẩu trầu, một mẩu bánh đối với các cụ đã là quý lắm!

- Vẫn có những cụ già còn khỏe mạnh, ít nhiều sáng suốt. Con trai con gái hay con dâu đều có thể khai thác các cụ ở điểm này. Đề tài khai thác là những kỷ niệm thời hoạt động của các cụ (nhắc lại những chuyện này các cụ thích lắm), là những niềm tự hào về dòng họ, về tổ tiên (các cụ cũng rất thích), và cả những hiểu biết về truyện cổ tích, về lịch sử, về văn chương, nếu các cụ không quen, thì có thể là chuyện về ngành nghề, về làng xóm. Chuyện này các cụ không sành, nhưng chuyện xưa, nếu biết hỏi, các cụ sẽ thấy hào hứng, cảm thấy là mình vẫn còn hiện diện. Cái vui của người già là ở đó.

- Rất nhiều trường hợp để xảy ra mâu thuẫn. Thí dụ có những cụ bà còn thích cầu cứng, xin thẻ. Những cụ bà hay kiêng kị, hay bắt bẻ cách nấu nướng, hay cho các cháu quà bánh thất thường, cho uống thuốc bừa bãi. Cái khéo của người con, nhất là con dâu là biết sắp xếp thế nào để không cho các cụ tiếp xúc với những việc ấy. Nếu các cụ lỡ tiếp xúc thì cũng đừng đấu tranh bốp chát mà giữ đúng mức: Kính nhi viễn chi, thì không khí gia đình mới thuận hòa yên ổn được.

Cuộc sống gia đình luôn luôn có nhiều mâu thuẫn. Giảm bớt được những mâu thuẫn này là cả một nghệ thuật. Trên đây ta chỉ mới nói qua, chứ làm sao mà kể cho hết. Cái chính là ở bản thân người con có tình, có nghĩa và có ý thức thì sẽ nghĩ ra được những cách giải quyết thỏa đáng. Nhiều tấm gương hiếu tử ngày xưa cho thấy những kinh nghiệm thành công. Nhiều người con trong Nhị thập tứ hiếu có thể đáng chê trách, nhưng có những người thật sự là tấm gương đẹp. Ông vua Ngu Thuấn ở trong một gia đình có rất lắm vấn đề:

Cha là Cổ Tẩu người thì ương ương

Mẹ ghẻ tính lại càng khe khắt

Em Tượng thêm rất mực chua ngoa.

Gia đình chúng la ngày nay làm gì có những tình cảm gay go một cách tập trung như thế. Thế mà ông Ngu Thuấn đã có nghệ thuật tài tình:

Một thân, thuận cả vừa ba

Trên thờ cha mẹ, dưới hòa cùng em.

Có được nghệ thuật như thế, Ngu Thuấn mới được xếp vào hàng đầu trong những người con có hiếu.

Còn một tấm gương nữa, gương của ông Mẫn Tử Khiên. Ông là đứa con riêng, mẹ mất sớm ở với dì ghẻ, một bà vợ lẽ rất là “nồng nàn” (nghĩa là rất cay nghiệt). Bà này sắm đủ quần áo cho con bà đẻ ra, còn cậu bé Khiên chỉ độc một manh áo mỏng giữa trời đông lạnh lẽo. Người cha sực thấy, nổi cơn giận dữ, định đuổi bà vợ lẽ đi. Nhưng cậu bé Khiên đã biết khuyên cha: “Dìlại thì một mình con chịu rét. Đuổi dì đi thì cả ba anh em đều phải khổ sở”.

Dì còn, chịu một thân con

Dì đi luống để cơ hàn cả ba.

Lời nói của đứa con bé bỏng đã khiến cha cảm động và cũng ảnh hưởng trực tiếp đến bà dì, làm cho bà trở nên người tốt. Bài học của những tấm gương hiếu tử ấy là gì? Nói theo cách hiểu ngày nay thì đó là bài học chiến thắng chủ nghĩa cá nhân, bài học quên mình để nghĩ đến người. Ngu Thuấn và Mẫn Tử Khiên đều là những người xưa, người thời tiền phong kiến và phong kiến, chẳng lẽ chúng ta những người xã hội chủ nghĩa mà lại thua những con người cũ kỹ ấy hay sao. Hy vọng những người con trong thời đại ngày nay có thể vượt ông Khiên, ông Thuấn.

4. Chữ “nhẫn”, bí quyết của văn hóa gia đình:

Tôi đã cố gắng tìm trong các lý thuyết của các nhà tư tưởng, các đạo đức gia xưa nay, một từ nào có thể đúc kết, khái quát được bài học luân lý, phương châm tu dưỡng và ứng xử cho sự bảo tồn và phát huy văn hóa gia đình, nhưng không sao tìm được. Ở Tây phương, tác phẩm rất nhiều và nhiều nhất là những câu châm ngôn sâu sắc, song người ta không quen với sự đúc kết thành những từ khái quát (trừ trong phạm vi triết học khi cần nêu công thức). Ở phương Đông, loại từ này khá nhiều, nhất là trong Nho giáo như các từ: hiếu, dễ, trung tín, nhân, nghĩa trí, dũng, liêm. Có điều những từ này thường gợi ra cái cảm giác về một lễ giáo phong kiến bị xem là khe khắt, hẹp hòi, mà ngày nay đem ra sử dụng thì

phải theo quan điểm mới mà giải thích một cách khác. Tôi mong có một từ cô đúc, đầy đủ và không bị gợi ra một thành kiến nào. Tạm thời, tôi nghĩ đến chữ Nhẫn, và bước đầu có thể xem đó là bí quyết để chờ khi tìm được một từ nào thích hợp hơn. Nhẫn, đó là bí quyết của tu dưỡng, của hành động để ứng dụng cho văn hóa gia đình, cả gia đình đương đại và gia đình phát triển.

Nhẫn là một từ Hán, nhưng cũng là một tiếng cổ Việt Nam. Trường hợp là tiếng cổ, nó cũng có nhiều nghĩa. Có nghĩa chỉ về thời gian (nhẫn từ quán khách lân la).

Có thể là chữ nhẫn này có giá trị vàng trong tất cả các hoàn cảnh. và trong tất cả thời đại. Việc to, việc cần gấp hay việc kéo dài, đều có thể vận dụng chữ nhẫn. Thời phong kiến, thời tư sản và cả thời xã hội chủ nghĩa nữa, chữ nhẫn có thể thích ứng với tất cả mà không phải thay đổi gì nội dung. Trung hiếu có thể hiểu mỗi cách, nhưng nhẫn thì dùng với tất cả mọi lập trường. Hãy cứ đối chiếu trong mọi trường hợp mà xem. Đã là con người thì nên biết nhẫn.

Đặc biệt trong hoàn cảnh gia đình, chữ nhẫn này là áp dụng cho tất cả các thành viên. Cha mẹ thì phải từ, con cái thì phải hiếu, anh em thì phải để, họ hàng thì phải thảo v.v… song tất cả mọi người không trừ một ai đều nên biết nhẫn. Cha mẹ nhẫn thì dễ dàng tha thứ, dễ có điều tri túc. Con bất nhẫn thì chịu đựng được những cái trái khoáy của người già và yên tâm làm việc của mình. Chữ nhẫn có c


Nhắn tin cho tác giả
Hoàng Minh Phương @ 15:26 22/03/2010
Số lượt xem: 313
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến