Chào mừng quý vị đến với Website Chia sẻ tài nguyên dạy và học của Hoàng Minh Phương.
* Thiên chúa giáo và văn hóa gia đình Việt Nam
Thật ra, phải nói rằng ngay từ buổi khởi đầu tiếp xúc, không rõ tâm lý người dân Việt vào các thế kỷ XV, XVI đã tiếp nhận Thiên chúa giáo như thế nào, để có thể có được một niềm tin sâu sắc. Tất nhiên là ở một số ít thôi, đang rất băn khoăn về số phận, về tình hình thực tế của cuộc sống, đã đi tìm một lẽ nhiệm mầu khác mà họ không gặp được ở những lý thuyết Nho, Phật, Lão đã ngự trị ở Việt Nam hàng mấy trăm năm. Gặp được Thiên chúa giáo, nghe những lời rao giảng của các linh mục trong hội truyền giáo, họ đã tin theo và trở thành những tín đồ nồng nhiệt đến mức phải chịu những sự khủng bố nặng nề. Có nhận định là: Sau giáo hội La mã, giáo hội Việt Nam đã dâng cho Thiên chúa nhiều Thánh tử vì Đạo hơn cả.
Vì sao vậy, chính là do ở những buổi khởi đầu này, Thiên Chúa giáo đã không hội nhập được vào văn hóa Việt Nam (về sau thì khác). Bên cạnh những ngờ vực có lý vì quả thực, quân đội xâm lược đã đi theo đoàn quân truyền giáo, vì có quá nhiều nhà truyền giáo không chuyên tâm làm việc đạo, và cũng có không ít những bọn phản động đội lốt giáo dân, ngay riêng trong lĩnh vực gia đình, mâu thuẫn kịch liệt với văn hóa Việt Nam lúc bấy giờ. “Đạo Cơ đốc không cúng bái tổ tiên, không tin thần Phật. Đạo uý thừa nhận một vị tối cao trên thiên đường là đức Chúa trời, rồi đưa ra nhiều thuyết như Tam vị nhất thể, tội tổ tông, hoặc những quy phạm như rửa tội, đeo thập tự giá, ngày kiêng kỵ”… toàn những điều rất xa lạ với học thuyết và phong tục cổ truyền của nước ta. Những người được tiếng là uyên bác, là đạo cao đức trọng đều cho là thuyết vu dân, có hại cho phong hóa. Hại cho phong hóa ở đây, trước hết là trong địa hạt gia đình.
Điều này, ngay cả các nhà truyền giáo hồi thế kỷ thứ 18 đã nhận ra trên vùng đất phía Nam. Vào những năm cuối thế kỷ này, Nguyễn Phúc Ánh muốn chống lại Tây Sơn, đã phải tìm viện trợ ở đức Bá Đa Lộc (tức giám mục Pigneau 1741 - 1799). Nhờ sự giúp đỡ này, ông đã thành công và trở thành vua Gia Long, thiết lập đế nghiệp của nhà Nguyễn. Ta không bàn đến các vấn đề chính trị, quân sự mà chỉ lưu ý là, quả thực Nguyễn Ánh rất tin tưởng Bá Đa Lộc, giao phó hẳn Hoàng Tử Cảnh cho đức cha. Chàng thiếu niên này đã sang Pháp rồi trở thành tín đồ Thiên chúa giáo, trở về gây nên nhiều sự can cớ ở ngay trong hoàng tộc, sự giảm sút thiện cảm ở ngay trong nhà lãnh đạo Nguyễn Phúc Ánh. Sau này, một học giả Công giáo ở Sài Gòn vào những năm 1992, đã có thể bình tĩnh khách quan mà nhận định(1)
“Đặc biệt trong những năm ở Tân triều (1778-1782), Nguyễn Phúc Ánh đã tỏ ra có ít nhiều thiện cảm đối với Công giáo, làm các thừa sai tràn đầy hy vọng rằng ông sẽ trở thành một Constantin hay Clovis của Việt Nam. Nhưng có lẽ ông đã bắt đầu đặt lại vân đề từ lúc hoàng tử Cảnh nhất định không đến lạy trước bàn thờ tổ tiên, trong một buổi lễ được tổ chức vào khoảng cuối tháng 7 - 1789, làm “ông đau khổ, tủi nhục và tức giận, vứt bỏ phẩm phục, mũ miện, nói rằng ông là một người cha bắt hạnh”(1).
Phải chăng từ đó, ông bắt đầu khám phá ra rằng do ảnh hưởng của Công giáo, con ông đã giữ một cự ly đối với ông và đối với gia tộc.
Sau sự cố này, ông đã có một cuộc trao đổi dài với giám mục Pigneau, phải chăng là để tìm cách thu ngắn cự ly này. Ông nói với giám mục Pigneau rằng không hiểu tại sao Công giáo lại cho phép giáo hữu quên tổ tiên mình, đối với ông, thờ cúng tổ tiên chỉ là một nghi thức có tính cách xã hội. Theo Pigneau, Nguyễn Phúc Ánh đã nói(2):
“Tôi biết là tổ tiên tôi không còn nữa, và tất cả những gì tôi làm không ích gì cho họ và không ích gì cho tôi. Tuy nhiên tôi muốn chứng tỏ cho mọi người thấy rằng tôi đã không quên họ và muốn cho thần dân của tôi một tấm gương sáng về sự gắn bó của con cái… Rất mong là tập tục này có thể dung hòa được với Công giáo. Bởi vì theo cách nhìn của tôi, không còn chướng ngại đích nào khác có thể ngăn cản tất cả vương quốc của tôi theo tôn giáo… Tôi đã cấm ma thuật và bói toán, tôi coi việc thờ cúng thần linh là sai trái và đáng buồn cười, nhưng tôi quyết giữ việc thờ phụng tổ tiên theo cánh thức mà tôi đã trình bày, bởi vì lôi đã coi đó là một trong những căn bản của nền giáo dục nước tôi. Tôi xin quý vị hãy quan tâm đến vấn đề này và cho phép người công giáo được xích lại gần hơn nữa với tất cả các thần dân khác của tôi. Điều này là ao ước cho mọi người thường và cần thiết đối với người có vị trí cao trong bộ máy nhà nước. Quý vị thấy là vào nhiều dịp khác nhau trong năm, lễ tân của triều đình qui định nghi lễ mà chính tôi phải tham dự cùng với tất cả các quan chức của tôi. Nếu nhiều người trong các quan lại theo đạo, không tham dự và làm giảm bớt sự uy nghi của triều đình. Nếu trái tại, quý vị cùng với hiểu biết nhất đang tin, thì các quan lại công giáo cũng như tất cả các quan hệ khác nhau tham dự với, và cũng dâng kính tổ tiên, thì không có lý gì để không giao cho họ những công trình lớn”.
Giám mục Pigneau và một số thừa sai khác đã thấy tầm quan trọng của vấn đề được đặt ra, và muốn xin tòa thánh Roma xét lại việc cấm thờ kính tổ tiên, nhưng phải chờ hơn một trăm năm mươi năm nữa, vấn đề mà được cứu xét và giải quyết một cách thỏa đáng (Tôi nhấn mạnh VNK). Trước mắt, mọi người đều phải tuân thủ.
Nguyễn Phúc Ánh đã có dịp nhận thấy một cách cụ thể rằng không phải hoàng tử Cảnh, người con còn nhỏ dại của ông, tuân thủ luật lệ Công giáo mà cả những vị quan Công giáo trong triều, cũng tuân thủ một cách chi li mà ông không làm sao lý luận để thuyết phục được. Phải chăng, từ những việc cụ thể đó, đã dần hình thành trong tâm trí ông một sự nghi ngờ, một sự lo ngại rằng Công giáo là một mối đe dọa đối với uy quyền của ông và đối với trật tự xã hội.
(Trương Bá Cần - sách đã dẫn)
Như vậy là đã rõ. Cái mâu thuẫn ở đây, sau này sẽ trở thành nhiều chuyện đáng buồn, đáng trách, căn bản là ngay trong vấn đề văn hóa gia đình. Chúng ta - cả hai phía người Công giáo và người không Công giáo đã không liệu lý được tình hình, và đã để diễn ra nhiều hậu quả.
Nhưng có phải văn hóa Thiên chúa giáo không đặt vấn đề gia đình không? Hoàn toàn không phải như vậy. Thiên chúa giáo rất coi trọng gia đình. Kinh Cựu ước, sách Lê vi nói đến sự thánh thiện của việc hôn nhân(1), sách Châm ngôn có bài ca ngợi người đàn bà có đức hạnh(2), sách Giảng dạy có đến 16 điều nói rõ: Ai bỏ rơi cha mình là kẻ phạm thượng, ai làm mẹ mình tức giận bị Chúa chúc dữ(3), những câu giảng chỉ rõ thế nào là người vợ tốt, người vợ xấu(4). Kinh Tân ước, sách Mat thêu dặn dò “chớ ngoại tình, đừng ly dị”(1), sách Luca có ngụ ngôn về người cha nhân hậu(2), Thư gửi tín hữu Corintô có hàng trang về vấn đề hôn nhân và độc thân(3), Thư cuộc đời của Thánh Phêrô nêu những bổn phận trong đời sống hôn nhân, bổn phận của anh em đối với nhau(4) và còn nhiều nữa(5).
Có những ý kiến suy niệm lời Chúa, giúp chúng ta hiểu thêm vấn đề quan niệm gia đình: Giáo hội đề cao cho chúng ta một gia đình gương mẫu: Gia đình Thánh Guise, Đức mẹ và Chúa Hài đồng. Gia đình ấy là một gia đình hạnh phúc, một là vì trong gia đình ấy có trật tự, và đâu có trật tự là ở đó có hòa bình hạnh phúc, hai là vì gia đình ấy có Chúa hiển hiện, mà đâu có Chúa luôn luôn hiển hiện là ở đó có hạnh phúc, ở đó là thiên đàng. Trong gia đình ấy, theo sổ công dân có ba nhân vật là Thánh Guise, Đức mẹ và Chúa Hài đồng. Trước mặt xã hội, Guise lớn nhất vì Guise là gia đình trưởng, rồi đến Đức mẹ và Chúa Hài đồng. Nhưng trước mặt Thiên chúa, thì giá trị ấy lại đổi ngược lại. Chúa Hài nhi lớn nhất vì là Thiên chúa, rồi tới Đức mẹ là mẹ Thiên chúa, đoạn đến Thánh Guise. Tuy nhiên cả ba người đã biết ở trong phạm vi địa vị của mình và trật tự ấy là yếu tố hạnh phúc gia đình.
Phúc âm kể lại vai trò của Guise là gia trưởng lãnh trách nhiệm. Guise quyết định đem mẹ con di cư qua Ai Cập. Giữa đêm thâu, Đức mẹ đang ôm ấp Chúa Hài đồng ngủ ngon lành thì Guise đến thức dậy: Em ơi! Dậy, trốn sang Ai Cập. Đức mẹ vâng răm rắp và vội vã lên đường. Guise quyết định đem gia đình về Nagiarét. Đức mẹ và Chúa Hài đồng về cư ngụ tại Nagiarét.
Vì thế, trong bài đọc 2, Thánh Phalô khuyên: “Hỡi các bà vợ, hãy phục tòng chồng trong Chúa cho phải phép. Hỡi những người con, hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự. Vì đó là đẹp lòng Chúa”.
Vậy muốn có hạnh phúc trong gia đình, trước tiên mỗi người phải biết ở trong địa vị của mình là chồng, là vợ, là con cái. Ngày nào mà cái trật tự ấy đảo lộn, lấn át, thì gia đình lung lạc…
… Muốn có hạnh phúc gia đình thì phải có Chúa hiện diện ở giữa. Gia đình Nagiarét là gia đình có hạnh phúc, vì ở giữa hai vợ chồng có Chúa hiện diện. Chúa là dây liên kết, là giảng mẫu, là sức mạnh, để gìn giữ hạnh phúc, để vượt thắng mọi sóng gió trở lực. Có Chúa, vợ chồng mới biết thương yêu hơn, nhịn nhục nhau, chịu đựng nhau. Nhiều khi luật Chúa và giáo hội có vẻ khắt khe, cứng rắn, ấy là một thành trì giữ vững gia đình… Nhờ nguyên tắc khắt khe mà hàng triệu triệu vợ chồng đã gắn bó với nhau hơn, đã nhường nhịn nhau hơn để biết thương yêu, Đó là kinh nghiệm của nhiều gia đình… (1).
Bằng cách gì đi nữa, thì các khuynh hướng lý thuyết tôn giáo ở ngoài vẫn phải cố gắng tìm cách hòa cài với bản sắc văn hóa Việt. Thiên chúa giáo có thể có những qui phạm riêng về sinh hoạt, những tín hiệu riêng về tinh thần, nhưng cũng vẫn phải gắn với tân thức quần chúng, phải chiếu cố đến phong tục cổ truyền lâu đời. Về điểm này, những năm cuối của thập kỷ 20 ở Việt Nam đã có những biến chuyển đáng kể:
1. Các vị bề trên của công giáo thế giới đã nhận ra rằng dù lý thuyết của Thiên chúa cần trân trọng đến mức nào, thì cũng không nên để nó trái lại với lòng dân. Năm 1949, có đạo dụ cho tín đồ Việt Nam được thờ tổ tiên. Sau cộng đồng Vatican II, vấn đề đã được khẳng định trên nghị quyết. Ngày nay, ở Việt Nam, những tín đồ công giáo chưa thờ tổ tiên chỉ còn(2): - Ở Hà Nội: 14,7% (năm 1992)
- Ở thành phố Hồ Chí Minh: 6,3% (năm 1993)
- Ở Huế: 6,3% (năm 1994)
2. Những nhà trí thức công giáo Việt Nam đã có những sáng kiến thích hợp dựa vào nền văn hóa dân gian cổ truyền để kết hợp truyền bá tinh thần công giáo, làm sáng danh Chúa. Quần chúng công giáo dễ dàng chấp nhận hơn nhiều. Chẳng hạn câu chuyện cổ tích Trầu cau với người vợ lầm hai anh em chồng, nếu đã phải chia ly, để được hợp nhất với nhau trong mấy vật liệu thiên nhiên, người công giáo đã hiểu một cách rất Việt Nam. Họ hiểu rằng sự phối hợp trầu cau và vôi lấy từ đá, luôn tạo thành màu đỏ thắm, được dành để diễn tả tình nghĩa sâu đậm và mặn mà giữa vợ chồng anh em trong gia đình đầm ấm tình thương. Gia đình đầm ấm tình thương là giấc mơ của mỗi người như là vườn ương, vun trồng các chồi non nhân đức, và nhân phẩm suốt đời người. Và người có thể nhìn vào đó mà hãnh diện cảm ơn Chúa! Tại sao vậy? Tại vì kể câu chuyện Trầu cau, người công giáo có thể nhớ lại thư gửi các tín hữu Côlôsê của Thánh Phaolô đã phác họa một gia đình gương mẫu:
“Anh em đã được Thiên chúa chọn lựa, thánh hóa và yêu thương, hãy mãi lấy lòng thương xót nhân hậu khiêm tốn, đơn giản, nhẫn nại chịu đựng nhau, tha thứ lẫn nhau khi có ai phản đối rầy la. Chúa đã tha thứ cho anh em làm sao, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau như vậy. Hãy đặt đức yêu thương lên trên hết mọi sự, đó là dây ràng buộc sự trọn lành. Rồi sự bình an của đức Kitô sẽ phấn khởi tâm hồn anh em. Nhờ sự bình an đó mà anh em đã được triệu tập thành một thân thể.
Anh em hãy cảm tạ Thiên chúa, hãy để cho lời hằng sống của Chúa ngự trị tâm hồn anh em. Hãy dùng mọi cách khôn khéo mà dạy dỗ nhau. Hãy dụng thánh vịnh, nhã ca, thi khúc mà chúc tụng và cảm tạ Chúa trong lòng anh em…”.
Cách hiểu một chuyện cổ tích dân gian như vậy, quả thực là thấm thía và có chỗ độc đáo. Chưa hết, bài giảng sẽ còn kết luận:
“Lậy chúa Giêsu, Chúa đã sống trong một gia đình êm ấm hòa thuận biết bao, xin giúp mỗi gia đình những con cũng có được tràn đầy tình yêu thương và niềm hạnh phúc chân thật của gia đình Chúa. Amen”(1).
Những người trí thức công giáo còn có một biện pháp thứ hai nữa. Là họ cũng bắt chước gương của các nhà Nho gia, Phật tử, soạn những tác phẩm diễn ca để truyền bá luân lý gia đình. Không rõ loại sáng tác này có nhiều không, riêng tôi có tìm được ở địa phận Phát Diệm (tỉnh Ninh Bình) một số bài được gọi là Ca vè cụ Sáu. Cụ Sáu đây là người công giáo quê ở Thanh Hóa, vốn tên là Hữu, gọi là Trần Lục, là một trí thức công giáo xuất sắc, có tên thánh là Phao, giỏi tiếng La tinh, Pháp, Hán, được phong là Linh mục coi sóc giáo xứ Phát Diệm, sau một thời gian ở Lạng Sơn, ông có vai trò nhất định trong cuộc giao thiệp giữa triều đình Huế và quân Pháp trong phong trào Cần Vương và tất nhiên có nhiều vấn đề cần được thẩm định trong phạm vi lịch sử. Nhưng một mặt, ông đã có công lớn là đã thiết kế xây căn nhà thờ Rosaire, tức nhà thờ Đá ở Phát Diệm, hoàn thành năm 1891, được xem là một kỳ công kiến trúc. Bà con công giáo ở vùng này lưu truyền những bài viết của ông và gọi là Ca vè cụ Sáu.
Trong tay tôi hiện có tập sách in hoạt bản đề 1: “Sách thuật lại ít nhiều ca vè cụ Sáu đã làm”, dày 116 trang khổ nhỏ, không ghi năm tháng và nhà xuất bản, không có lời giới thiệu, không có một chú thích nhỏ nào. Tập sách gồm các bài:
- Bài Hiếu tự ca từ trang 3 đến trang 50
- Bài Nữ tắc thương lễ từ trang 51 đến trang 95
- Bài Nịch ái vong ân lừ trang 95 đến trang 115.
Tất cả đều viết theo thể Việt Nam song thất lục bát, hoặc có đoạn hoàn toàn là lục bát. Lời văn rất thô sơ mộc mạc, đúng là loại ca vè. Nội dung giáo dục không có gì khác với nội dung luân lý thường được thấy ở các tác phẩm của nhà Nho, nhà Phật… Tất nhiên, cách giải thích đều kết hợp với quan niệm bình dị của người nghèo theo Thiên chúa giáo. Chẳng hạn, ông nói vì sao có con người:
Là vì:
Phần hồn thì Chúa sinh ra
Xác này Chúa phó mẹ cha sinh thành
Phụ tình mẫu huyết đúc hình
Cho ta toàn vẹn mà sinh làm người.
Cách giảng dạy trong các Ca vè cụ Sáu, có điều khá đặc biệt là rất cụ thể chi li. Bài Nữ tắc thương lễ, ông đưa ra tám điều để dạy đàn bà con gái. Đó là việc đối đãi với cha mẹ, việc tiếp khách, việc ăn làm, việc đi, việc đứng, việc nói, việc mặc và việc nấu nướng. Từng cử chỉ nhỏ nhặt nhất, ông cũng lưu ý bày vẽ cho các cô. Thí dụ trong lúc ăn cơm, phải và, phải nuốt, ông cũng chỉ bảo rất cặn kẽ:
Húp thì đừng có húp lùa
Húp sao như thế là khua bát nồi
Vậy thôi đừng có và lôi
Và và cập rít không rồi kịp nhai
Má phùng mắt trợn và hoài
Và lấy và để rồi nhai trợn trừng
Nuốt nuốt ừng ực tráo trưng
Nói năng chổm chảm thậm chưng là rầu!
Ngay một việc ngồi! Ca dao tục ngữ chỉ có câu: ăn xem nồi, ngồi xem hướng, chứ cụ Sáu thì bày vẽ không thể nào chi tiết hơn:
… Ngồi đừng ngồi như chão chàng
Cũng đừng ngồi xổm mà càng khó coi
Ngồi cho đĩnh đạc hẳn hoi
Chớ đừng ngồi xổm kẻo người nhỡ ra
Ngồi đừng chân duỗi chân co
Ngồi đừng lâng láo như trò trẻ con
Ngồi đừng hai gối bó tròn
Ngồi đừng xoay xở trong nom người ngoài
Ngồi đừng chân duỗi cả hai
Cũng lại có người chân bỏ đu đưa
Đừng ngồi chống nạnh thế mà không xong
Đừng ngồi bậc cửa mà trông
Đừng ngồi mà lấy tay nâng đỡ cằm
Đừng ngồi mặt mũi sa sầm
Như buồn như giận mà căm chuyện gì
Ngồi đừng có ngoảnh mặt đi
Ra như kiêu hãnh vậy thì khó coi
Ngồi đừng vác mặt trông trời
Vác mặt như thế người kiêu căng
Ngồi đừng trông vách như rằng
Không thèm nói chuyện lằng xằng dơ tai
Ngồi đừng ngáp thở vươn vai
Vặn mình bẻ đốt ngón tay làm gì…
Còn dài, còn nhiều cách ngồi phải bày dạy nữa. Nhưng có lẽ cũng đã đủ rồi. Trong các sách gia huấn ca, phụ ngâm tiện lãm từ xưa đến nay, có lẽ không có cuốn sách nào dạy được như kiểu Ca vè cụ Sáu cả. Việc giáo dục gia đình công giáo được đã quan tâm đến mức tỉ mỉ như vậy đấy.
HIẾU TỰ CA
(trích Ca vè cụ Sáu)
… Mẹ cha mỏi miệng mỏi môi
Dạy việc đạo đời hiếu nghĩa
Việc phần hồn trước dạy làm dấu
Kêu Giêsu, Thánh Mẫu, Quan thầy
Kinh hằng ngày sự cần phải học
Mẹ dạy con trằn trọc hôm mai
Việc bề ngoài liệu chừng tuỳ tuổi
Cha dạy con hết nổi dạy khôn
Việc phần hồn xưng tội đâu hết
Dạy làm sao con biết dọn mình
Thật chí tình là lòng cha mẹ
Móc mọi điều cặn kẽ dạy con
Bây giờ con đã cả khôn
Thế nào là hiếu, con chôn vào lòng
Để hầu trả nghĩa đền công
Mẹ cha dạy dỗ hết lòng thương con…
Già nua hơi sức chẳng còn
Xác người rũ liệt gầy mòn vì ai
Dạy ta, người đã hết hơi
Miệng người đã sái không ngơi chút nào
Lúc thì hỏi nhỏ thì thào
Lúc thì thủ thỉ thấp cao mọi giờ
Dỗ ta dỗ lúc ngây thơ
Dạy ta thì dạy mọi giờ chung thân
Nợ này là nợ đồng lần
Liệu mà trả lại cho cân thăng bằng
Chớ điều nặng nhẹ tri trăng
Chớ điều lủng bủng vùng vằn cãi đôi
Chớ điều nói một dối mười
Biết rằng người dỗ mà thôi với mình
Phải xét tinh so đo cho phải
Chớ nửa nhời dối cãi trí trô…
… Làm con chớ ở bạc tình
Cướp công cha mẹ sinh thành sao nên
Oan gia báo lại nhãn tiền
Công bằng đối đáp tự nhiên rành rành
Đấu con mình nó chăm đọng lại
Vốn đã đành lại lãi gấp đôi
Ăn khép lại rồi chữ vàng rỡ rỡ
Kẻ làm con mà ở bất nhân
Kíp chầy báo lại chần chần
Tri thù chẳng sót muôn phần chẳng sai
Hãy lắng tai nghe lời Chúa hứa
Ai hết lòng thảo hiếu mẹ cha
Sẽ ban phần thưởng này là
Sống lâu dưới thế để mà trả công
Về sau phúc trọng muôn phần
Chúa còn trả lại vô cùng hẹp chi
Mấy lời hiếu tự phải ghi
Chôn lòng mà giữ chớ khi nào rời
Amen
(ST)
Hoàng Minh Phương @ 11:20 21/03/2010
Số lượt xem: 253
- * Phật giáo và văn hóa gia đình Việt Nam (21/03/10)
- * Nho giáo và văn hóa gia đình Việt Nam (21/03/10)
- * Văn hóa gia đình Việt Nam (phần 6) (21/03/10)
- * Văn hóa gia đình Việt Nam (phần 5) (21/03/10)
- * Văn hóa gia đình Việt Nam (phần 4) (21/03/10)
Các ý kiến mới nhất