Chào mừng quý vị đến với Website Chia sẻ tài nguyên dạy và học của Hoàng Minh Phương.
* Văn hóa gia đình Việt Nam qua những tín ngưỡng khác
Người Việt Nam có tín ngưỡng đa thần cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới. Niềm tin này chủ yếu là thể hiện sự mong mỏi cho một cuộc sống bình yên cho bản thân và cho gia đình. Tư tưởng Nho hay Phật, mãi sau mới đến, nhưng khởi đầu, người dân chỉ biết tin vào lực lượng thần linh ma quỷ ở chung quanh mình, rồi về sau sẽ mượn các lý thuyết Nho Phật để ghép vào, nhưng không mấy quan tâm về khía cạnh triết học. Người dân ta tin tưởng có Trời. Họ hình dung có một vị chúa tể cao siêu, có thể thấu suốt được mọi việc to nhỏ, mọi thời gian xa gần, và nắm vững cán cân công lý cho từng cuộc đời cụ thể. Con người luôn luôn nghĩ rằng, họ có thể được ông Trời chở che phù hộ. “Nhờ Trời” là một khẩu ngữ quen thuộc với bất cứ ai. Kể cả người trí thức, người có địa vị và người bình dân tầm thường, chân trắng. Những điều gì con người không biết được, thì Trời biết hết: “Người dù không biết, trời đã biết cho”.
Dần dần, theo các tư tưởng học thuyết bên ngoài nhập vào, người ta sẽ có cách cụ thể hóa cái ông Trời này. Ông có thể là Thượng đế, là Ngọc hoàng, và tuy ông không phải là Phật, nhưng ông lại có cách sắp xếp điều hành cho các vận mệnh của con người giống như Phật vậy. Ông nắm rất vững lẽ báo ứng, định đoạt những phúc tội cho con người theo những cung cách rất huyền vi. Có lẽ mấy câu thơ mở đầu tác phẩm Nhị độ mai phát biểu được cái lý tồn tại, cái khả năng thấu suốt của ông Trời một cách đầy đủ hơn cả:
Hóa nhi thăm thẳm nghìn trùng
Nhắc cân phúc tội, rút vòng vần xoay
Ngàn xưa mấy kẻ gian ngay
Xem cơ báo ứng biết tay trời già
Tuần hoàn nhẽ ấy chẳng xa
Chớ đem nông nổi mà ngờ cao xanh
Trời nào phụ kẻ trung trinh
Dù tương nạn ấy, ắt giành phần kia.
Cách hiểu về Trời như thế, cho là mê tín cũng được, song thực ra vẫn có cơ sở, có hạt nhân hợp lý của nó. Có thể là do hai nguyên nhân cụ thể:
- Một là do sự chiêm nghiệm trong cuộc đời của con người. Trong cuộc sống xô bồ, mênh mang những đầy vơi, thua được, người ta nghiệm thấy trong đời quả thực có nhiều biến cố, đổi thay khiến con người phải ngạc nhiên. Cái giàu sang vinh hiển của một gia đình thường lặp đi lặp lại, khiến cho người ta không biết cắt nghĩa thế nào, chỉ qui cho lẽ Trời là dễ hiểu hơn cả. Qui cho lẽ Trời, người ta cũng sẽ có nhiều cách. Khi oán giận thì cho là ông Trời hay ăn ở bất công. Khi mỉa mai thì hình dung ông Trời như một đứa bé con tinh nghịch, hay dày vò đồ chơi của nó, chẳng cần biết kết quả sẽ ra thế nào (ta hay nói trẻ tạo đành hanh, hóa nhi thờ ơ là đó). Nhưng khi chiêm nghiệm thấy có cái đúng thì lại thấy ông Trời là chí công, chí thiện. Từ những quan niệm này, có thể thấy tuy có khi đồng nhất trong một cảm quan mơ hồ, nhưng tín ngưỡng về Trời về Phật v.v… là có thể phân biệt được.
- Hai là, bên cạnh sự chiêm nghiệm để đi tới một sự sùng bái mơ hồ, lại cũng vẫn có một ý chí, một tinh thần kiên quyết. “Có trời soi sét”, “Ta chỉ ở với Trời”, có thể là một cách an ủi, một sự động viên, nhưng đồng thời cũng là một sự khẳng định về mình, một niềm tin mãnh liệt. Chung quanh ta, có thể có nhiều thế lực bạo tàn, có nhiều sự dày vò thậm chí đến hãm hại, nhưng ta vẫn vững lòng tin vào Trời, tức là vững vào ta. Chính nghĩa không bao giờ thua, mặc dầu có lúc chưa tranh được phần thắng. Có Trời, là có lẽ công bằng, ta có thể tin vào công bằng ấy.
Có thể tin vào Trời, thì cũng phải hình dung rằng tất nhiên ông Trời này không chỉ có một mình. Ông cũng phải có quân gia bộ hạ. Chắc rằng các tướng tá của ông rất nhiều, được ông giao công việc theo dõi mặt này, nơi kia. Đây hẳn là các vị thần linh dưới quyền ông sai khiến. Các ông thần này chắc chắn là đã được tưởng tượng ra trước. Trước khi có Trời, đã có thần. Quan niệm đa thần giáo chứng minh điều đó. Nhưng sau này thì tất cả đều được qui vào một hay nhiều hệ thống, dưới quyền sai phái của Trời. Lúc này là lúc Đạo giáo cũng được nhập vào, để cho người dân chấp nhận luôn rằng thế giới của Trời cũng là một thế giới quan liêu như ở trần gian vậy. Người trần có Hoàng đế thì trời có Ngọc hoàng, trần có thần lửa, thì trời có Hỏa đức tinh quân, có Táo phủ thần quân, Đông trù tư mệnh v.v… Lâu dần, đạo giáo được phổ biến, người dân thường cũng biết đến các Bắc đẩu, Nam tào, Long vương v.v… thực ra vốn là những ông thần Đất, thần Biển của dân gian, chứ không có gì lạ.
Từ tín ngưỡng về ông Trời và hệ thống thần linh bộ hạ của ông, mà người Việt Nam đã tin tưởng rằng trong một gia đình, có rất nhiều vị thần, mỗi vị phụ trách một công việc để giám sát và bảo vệ cho gia đình ấy. Từng cá nhân có một ông Trời và một ông thần bản mệnh, nhưng cả gia đình thì có rất nhiều thần: Thần Lửa (tức là ông Táo, ông Bếp), thần Cây (phần lớn là các bà: Bà Cây), thần Đất (ông Thổ địa), thần Giữ cửa (nhị vị thần môn), thần Tài (thần coi sóc việc làm ăn sinh lợi). Có những vị thần chăm sóc cho trẻ em (mười hai bà mụ), có vị thần theo dõi công việc trong cả một năm (đương niên hành khiển ) v.v… Tất cả đều làm nhiệm vụ giúp cho gia đình được an cư lạc nghiệp. Tuỳ lừng hoàn cảnh, các gia đình có thể thờ thêm nhiều vị thần khác, hoặc thờ cả Phật, thờ Tổ Nghề, thờ Mẫu v.v… (Xem lại phần Lễ thức gia đình ở chương I).
Không rõ ở nhiều nước khác có quan niệm và hình thức tín ngưỡng như ở ta không. Song xét về phương diện văn hóa, nhìn theo góc độ tâm linh (và cả tâm thức dân gian) thì đây là một vấn đề đáng chú ý của gia đình Việt Nam. Ở nông thôn, sự thờ phụng này là phổ biến, và ở thành thị cũng không hiếm. Có thể có nhiều gia đình không có bàn thờ, không thắp hương khấn vái, nhưng trong quan niệm, người ta vẫn cứ tin. Có nhiều người, bề ngoài tỏ ra vô thần, nhưng thực chất vẫn có niềm tin cả tự phát và tự giác.
Cùng với hệ thống thần linh này, trong các gia đình, các vị tiên tổ cũng được xem như những thánh thần, cùng với các thần chăm lo bảo vệ cho gia đình. Dân gian đều cho là những vị “khuất mày, khuất mặt”, những vị ở “trên đầu trên cổ”. Những người đã khuất, luôn luôn thường trực bên bàn thờ, hoặc ở đâu đó trong khoảng không, nhưng hễ được nhắc đến là sẽ về ngay với con cháu “Hữu cảm tắt thông, hữu cầu tất ứng”. Đó là sự linh thiêng của các tổ tiên. Tổ tiên cũng có thể có lúc quấy nhiễu con cháu, nhất là khi con cháu làm điều không phải, hoặc do một nguyên nhân nào đó ảnh hưởng đến sự an toàn của tổ tiên (như mồ mả không yên). Có một điều người Việt rất lo lắng là để xảy ra điều gì đó đụng chạm đến tổ tiên mình. Việc gần là phải kiêng tên, tránh phạm húy, việc xa là đừng làm điều gì thất đức. Có rất nhiều chuyện tranh chấp về tiền tài, ruộng đất của cha ông, mà con cháu này phải đền bù. Có những người con độc ác khiến tổ tiên phải trừng phạt bằng nhiều hình thức. Trong số các vị tổ tiên có ảnh hưởng lớn đến các gia đình, thường thấy nhắc nhiều đến những vị tổ cô. Hầu như gia đình nào cũng thấy có một bà tổ cô nào đó rất thiêng liêng, bà cô này lại hay gắn vào bản mệnh một đứa cháu nào đấy, có khi là cháu đến bốn năm đời. Bài vị ngũ đại tổ cô thường được thờ ở một cái khám (cái tịnh) riêng, bên cạnh gia y thờ ông vải.
Từng gia đình có những vị thần bảo vệ và giám sát, thì đồng thời cũng có những lực lượng phá phách quẫy nhiễu. Người Việt cũng tin điều ấy và cho rằng, trong nhà mình vẫn có ma quỉ khi ẩn khi hiện. Nét văn hóa ở đây là ma không bao giờ có ở các gia đình tốt. Ma quỉ chỉ đến khi gia đình “có chuyện” mà thôi. Những gia đình đứng đắn không có ma, hoặc ma chính là những linh hồn về nhà vào những ngày giỗ tết hoặc sóc vọng. Có gia đình, có bàn thờ thì không bao giờ có ma vô thừa nhận. Còn khi gia đình gặp điều gì đó không hay thì những con ma mới đến quấy nhiễu. Có những ma bệnh, ma trùng, tuỳ theo hoàn cảnh mà nhập vào nhà. Ma ranh, ma xó cũng vậy. Có ma theo người từ những vùng xa đến như ma cà rồng, ma phì bọp. Có cả ma báo ân và ma báo oán. Sự thực như thế nào, thì không cắt nghĩa được, nhưng thực tế là các gia đình đều rất lo lắng đến vấn đề này. Và đó là một điều mầu nhiệm khiến cho các gia đình phải chú ý đến việc làm điều thiện. Cái vô phúc của một gia đình là kết quả từ những sai lầm tích lũy ở kiếp trước và thường thấy là do bị oán thù. Trong quan niệm giáo dục của nhà nước phong kiến Việt Nam trước đây, vấn đề ân oán được đặt cao hơn hết, cao hơn cả tài năng. Trong những kỳ thi đó tiếng loa gọi mời đầu tiên là mời những hồn ma báo oán (Báo oán giả tiên nhập), tiếp đó là hồn ma báo ân (Báo ân giả thứ nhập). Học trò vào thi là phải vào sau các ma quái ấy (Sĩ thứ gải, thứ thứ nhập). Mê tín thì đúng là mê tín, nhưng mê tín để đảm bảo cho sự an toàn, cho hạnh phúc của gia đình, mê tín để bắt người ta phải làm việc thiện thì lại là một thứ mê tín văn hóa nhiều hơn là lạc hậu, ngu dân.
Cùng với trời, với các thần linh ma quái, người Việt Nam còn có một tín ngưỡng nữa. Tín ngưỡng ấy có thể gọi là đạo thánh. Có thể có một chuyên đề nghiên cứu về đạo này, hình thành nên hệ thống lý luận hẳn hoi, nhưng ở đây ta không có điều kiện đi sâu.
Chỉ xin lưu ý vấn đề đạo Thánh này, nhìn theo góc độ văn hóa gia đình của người Việt. Có điều đáng chú ý là người Việt Nam (chưa hàm được bản thống kê so sánh, nhưng nhất định không sau quan niệm Thánh cũng nằm trong một hệ thống gia đình. Có thể có thánh Cha, thánh Mẹ. Có thể có thánh Cô, thánh Cậu. Và trong hàng ngũ của các thánh đồng đẳng, cũng chia ra thành những đức thánh ha, đức thánh Hai v.v... Hình như trên thế giới, hiếm có những trường hợp tương tự. Thánh mà cũng có gia đình, có trật tự của một gia tộc, thì ý nghĩa của gia đình phải rất là bền vững, sâu sắc có khi các vị thánh này là anh em, chị em của một gia đình người trần giới, khi hiển linh được thành thánh và vẫn giữ bổn phận, giữ nguyên vị trí trong dòng tộc. Chẳng hạn gia đình Lê Ngọc (viên quan coi sóc vùng đất Đồng Pho ở ái châu hồi thế kỷ thứ VI), đã chống lại với Trung Quốc, tự lập thành một vùng tự trị. Ông bố - Lê Ngọc - được trở thành vị thánh Cao hoàng, và các con trai của ông cũng thành thánh: Thánh Cả và Thánh Lưỡng. Người thứ ba là con gái, là thánh Bà, có hiệu là Tam giang liệt nữ thánh mẫu. Ấy là thánh cùng huyết thống. Có khi họ là người tứ xứ, nhưng được đi theo các thánh Mẫu để phò tá, cũng được xem là những thần nữ công chúa, hoặc là những hoàng tử (đều là các thánh cấp dưới), của một hệ thống. Khi đó thì họ được gọi là các Cô: Có đến 12 cô, gọi theo thứ tự (cô Ba, cô Chín) hoặc các ông hoàng (ông hoàng Bảy, ông hoàng Mười). Họ là những thủ hạ của các thánh Mẫu, được giao quản lý vùng này, việc nọ, nhưng đều phải châu tuần về với Mẫu. Mẫu như một nữ gia trưởng trong một gia đình. Rõ ràng, đây là ánh hồi quang hình ảnh của một gia đình trần thế. Gia đình Việt Nam, trong cuộc đời thường là tổ ấm có nề nếp truyền tử nhược tôn. Gia đình ấy trong cõi siêu trần, cũng gắn bó, cũng thiêng liêng. Có niềm tin về cõi xa xôi, thần bí thì có niềm tin vào thực tế cụ thể. Cái văn hóa gia đình của chúng ta là ở đó Hình như điều sâu sắc này thường ít được người đời quan tâm nên không thể thấy hết cái tâm lý (hay triết lý) gia đình của người Việt.
Từ vấn đề các thánh trên đây, dân gian Việt Nam đi tới một quan niệm tín ngưỡng khác, cũng có ít nhiều dáng dấp của vấn đề triết học (ta sẽ không nói đến), nhưng gắn bó với văn hóa gia đình hơn. Đó là tín ngưỡng về Bà mẹ - dân gian gọi là đạo Mẫu. Lịch sử đã có truyền thuyết về cái bọc trăm trứng để đi tới cắt nghĩa đồng bào. Thì dân gian cũng tin tưởng sâu sắc là nước là một đại gia đình, cùng chung ruột rà máu mủ. Dù thuộc chủng tộc này hay thị tộc nọ, tất cả đều là ruột thịt với nhau, gắn bó với nhau bằng quan hệ gia đình. Gia đình nào cũng có người chủ, người chủ này chính là các Bà mẹ, chứ không phải là ông cha. Luân lý phụ quyền là sản phẩm của Nho giáo. Chứ theo cái lẽ tự nhiên của trời đất thì mẹ sinh ra tất cả con cái, mẹ là người nuôi dưỡng, dạy dỗ, rèn cặp từ thuở sơ sinh. Mẹ chăm sóc cho con mình suốt cả một thời gian dài từ nôi đến mộ. Và người ta tin rằng không phải chỉ những sinh vật mới có mẹ, mà cả những vật vô tri, những mỏm đá khác sông chẳng hạn cũng đều có mẹ. Có mẹ Đất, mẹ Nước, mẹ Núi, mẹ Rừng, mẹ Lúa v.v… Có mẹ là có gia đình, đạo lý của dân tộc ta là ở đó. Chắc trên thế giới, đâu đâu cũng có quan niệm này, nhưng ở Việt Nam, tất cả các dân tộc đều hình dung nên được những bà mẹ cội nguồn, quan niệm mẹ, quan niệm gia đình, quả là nhất quán. Người Việt có mẹ âu Cơ, người Thái có bà Ý cập ý kè, người Tày có bà Sao Cải, người Chăm có bà Inư Nuga. Có mẹ dân tộc, còn có mẹ nghề nghiệp như mẹ Yang Xri (mẹ Lúa ) của các dân tộc Tây Nguyên, mẹ Choang Go Chươi Lụa của dân tộc Mảng, nhiều lắm. Nhưng đó là đi tìm các mẹ theo các phả hệ. Các dân tộc mỗi con người, mỗi cộng đồng sẽ theo truyền thống của mình mà có những tài liệu riêng. Dân tộc ta còn đặc biệt chú ý đến cuộc sống chung cả tất cả. Trong cuộc đời thường, con người lao động, tháng ngày phải chịu đựng bao nhiêu gian lao trong rừng sâu, ngoài biển cả, giữa ruộng đồng, trong hoàn cảnh khắc nhiệt, luôn luôn nơm nớp vì những đe dọa bất ngờ. Họ không có đủ khả năng để vượt nổi những khó khăn, thắng được những bí mật của thiên nhiên trong các trường hợp gay go cụ thể ấy. Có thể trông chờ ở những phát minh khoa học, nhưng đâu phải đã có ngay những phát minh trong một sớm một chiều. Và khoa học nào cung cấp nổi một vũ khí cầm tay cho con người để dẹp tan một cơn sóng thần hay một trận động đất? Rút cục con người chỉ biết dựa vào sức lực bản thân mình thôi. Tìm một sự viện trợ mơ hồ ở một thần linh đầy quyền uy phép lạ nào đó, chẳng qua cũng chỉ là một cách để con người tăng thêm sức mạnh tinh thần, vững niềm tin tưởng. Đi kiếm vị thần linh ấy ở một chốn siêu trần mờ mịt nào là chuyện vu vơ vô nghĩa, chi cho bằng dựa ngay vào tấm lòng, vào cánh tay của mẹ thân yêu. Dã thú có thể bạo tàn, nhưng chắc phải biết vâng lời mẹ Núi. Sóng gió có thể hung dữ nhưng sẽ vâng theo quyền phép của mẹ Sông. Dựa vào các mẹ ấy, cũng chỉ là một cách đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo. Té ra thờ Mẫu là cơ sở niềm tin ấy vì Mẫu là chủ gia đình. Thế thì gia đình của chúng ta là có sức mạnh, có quyền uy đến mức như thế.
Vậy là ra đời các đức “Mẫu”. Có trời thì có mẹ Trời, nước phải có mẹ Nước, non có mẹ Non. Các nhà chữ nghĩa sẽ đặt ra những cái tên văn hoa Thiên cung, Thuỷ cung, Lâm cung thánh mẫu, nhưng dân gian vẫn gọi một cách nôm na thân thiết là bà Mẫu Cửu trùng, bà Mẫu Thoải, và bà Mẫu Thượng ngàn. Đó là Tam tòa thánh mẫu, là thuộc tín ngưỡng Tam phủ (ba cõi: Thiên phủ, Nhạc phủ - nhạc là núi). Có ba cõi ấy sao lại không nhớ đến cõi người. Thế là ra đời cả bà mẹ Đất nữa.
Nhưng bà mẹ Đất này, theo quan niệm dân gian Việt Nam khác với những Mère Terre ở Tây phương, mẹ Đất của ta thực ra là mẹ Trần gian chứ không phải mẹ của Đất. Gọi là Địa cung thánh mẫu, không phải là bà mẹ đẻ ra ruộng đồng, làng xóm, mà thực ra là bà mẹ của cuộc đời.
Người dân chọn ngay một bà từ cõi đất mà ra chứ không phải là một nữ thần xa xôi tưởng tượng. Người ta đã tìm ra bà Liễu Hạnh, một biểu tượng đa dạng và sinh động, một nhân vật phi thường song lại bình thường. Ở Liễu Hạnh, ta gặp một người yêu, một người vợ, một bà mẹ. Liễu Hạnh hiện ra, khi là một cô gái, một nàng tiên, khi là một nhà văn, một nữ tướng. Nàng là phụ nữ Việt Nam với tất cả những khả năng, những tiềm lực. Liễu Hạnh có hiếu nghĩa theo Nho, có pháp thuật theo Đạo, có qui y theo Phật nhưng cũng không có một đạo nào có thể kìm hãm nàng. Nàng vẫn cứ tồn tại bất chấp mọi uy lực, luật lệ của Vua chúa, kể từ Ngọc hoàng thượng đế cho tới các Vương giả chốn trần gian. Kể cả khi phải đánh nhau với những thần thánh nào đó, nàng có lúc bị thua, nhưng kết quả vẫn là được tôn vinh chứ không hề bị trừng phạt. Một hình tượng như vậy làm mẫu nghi cho thiên hạ, để chủ trì cho các gia đình thì quả là đặc sắc.
Liễu Hạnh đã trở thành mẹ Việt Nam trong cảm quan huyền thoại, trong ngưỡng mộ chân thành, người dân bình thường trông đợi ở mẹ. Mẹ đã sống cuộc sống thực, có thể là kinh nghiệm quí báu cho người đời noi theo. Mẹ yêu quê hương làng mạc, làm tròn trách nhiệm với gia đình, giữ tình thuỷ chung, không chỉ kiếp này mà ở cả kiếp sau. Mẹ có tâm hồn nghệ sĩ, có kiến thức uyên bác. Mẹ cũng cầm quân xung trận, có được, có thua. Nhưng điều đặc sắc nhất là mẹ là con người tự do hơn tất cả. Chính quyền và lễ giáo trong xã hội cũ chưa hề có khái niệm dân chủ, chưa bao giờ nghĩ đến nam nữ bình quyền thì Liễu Hạnh đi trước nhiều bước. Bà mẹ Việt Nam là như thế đấy. Bao nhiêu người nói đến văn hóa gia đình Việt Nam, mà vẫn không để ý đến cái hình tượng “Mẹ” này, chất văn hóa thật là độc đáo.
Qui tụ chung quanh đức Mẫu, như ta đã nói trên, là cả một đại gia đình. Các bà mẹ Nước, mẹ Rừng, mẹ Trời cũng vào cả đây để tạo nên tín ngưỡng Tứ phủ (rất hợp lô gích) nhưng luôn luôn phải dành cho mẫu Liễu vị trí hàng đầu. Cái đại gia đình thần linh dưới quyền mẫu sẽ gồm các Cô, các ông hoàng, và đặc biệt là có cả các nữ thần miền núi, nhiều Cô được gọi là Chầu như, Chầu Lục, như cô Bé, cô Đôi, hoặc cô Chín giếng, cô Đồng Mỏ đều là những nữ thần dân tộc thiểu số. Họ cũng được kính trọng tôn thờ chứ không bị kỳ thị như quan niệm thế gian phân biệt. Rồi dần dần, các vị anh hùng dân tộc của tất cả các thời đại cũng đều được đưa vào chung quanh bàn thờ Mẫu. Trần Hưng Đạo hay Bát hải đại tướng được nhận là cha, Liễu Hạnh được xem là mẹ một cách hồn nhiên, không có gì vướng víu. Cách hiểu như thế phải chăng cũng có thể giúp cho sự nhận định về quan niệm gia đình, điều mà xưa nay chưa ai đề cập tới.
Tìm hiểu về Mẫu, có nhiều vấn đề văn hóa có thể được đặt ra, rất gắn bó với tư tưởng văn học, nghệ thuật Việt Nam.
Có thể đi sâu thêm vào tín ngưỡng Tứ phủ. Dân gian đã quen gọi đây là một đạo. Cách gọi như vậy đúng hay sai ở mức độ nào? Phải chăng nếu có thể nghiên cứu thêm vấn đề này ở giác độ triết học và tôn giáo? Nếu có thể quan niệm được đây là một đạo - Tất nhiên phải nêu bật được vấn đề triết học, lịch sử tôn giáo Việt Nam.
Chúng ta vẫn quen hiểu rằng Việt Nam không có tôn giáo, Việt Nam chưa tìm ra được những giáo chủ, những lý thuyết gia triết học nào. Những đạo Tiên, Nội đạo và Cao đài, Hòa hảo cùng nhiều ông Đạo gần đây ở Nam Bộ đều mới dừng ở mức thông tin, đây đó có ít nhiều qui phạm. Ý vị tâm linh ở đạo Tứ phủ có tầm sâu rộng hơn nhiều. Song vấn đề hãy còn để ngỏ.
- Nhìn vào hệ thống thần linh của Tứ phủ, bên cạnh những nét độc đáo như hệ thống các Cô, các ông hoàng miền xuôi, miền núi châu tuần quanh các Mẫu, và hệ thống các anh hùng dân tộc với những bộ tướng ngũ hổ, những triều vua quan như hệ thống Trần triều, ta còn phải để ý đến nhiều nữ thần khác nữa, đều được đưa vào hệ thống Tứ phủ. Có những bà trong lịch sử có vai trò chói lọi hoặc mờ nhạt như bà Bát Nàn, bà Lý Chiêu Hoàng đều có công tích với nhân dân. Có những bà chưa tìm ra gốc gác - không biết là người thực hay là nhân vật hư cấu (Lê Mại đại vương). Rồi một loạt các Công chúa như Bạch Hoa, Hồng Hoa. v.v… Có phải đều là sản phẩm sáng tạo? Có cả những người nước ngoài như Tứ vị Hồng nương. Có trường hợp khá thú vị là hình như đạo Tứ phủ này lan tới đâu, thì những hình tượng mẹ tiêu biểu (dù có thực hay không) ở đó, đều được nhập vào hệ thống. Đến Tây Bắc có cô Cam Đường, cô Bắc Lệ vào Thanh Hóa có cô Ba Bông, vào Quảng Nam có bà Ngự Tân v.v… Mẹ thì ở khắp nơi. Nơi đâu mà không có mẹ?
- Từng bà, từng cô được thờ phụng như thế, đều được hình tượng hóa bằng những tác phẩm nghệ thuật hẳn hoi. Hình tượng các bà, các cô được gợi nhớ trong các văn bản Chầu và trong các điệu múa không lời rất giàu tính nghệ thuật. Đi xem biểu diễn một giá đồng, ta có cảm tưởng là được xem một vở kịch, một điệu múa, mà ngôn ngữ chủ yếu ở đây là các động tác.
Phải bằng ngôn ngữ ấy mới có được sự giao cảm tiên trần và con người trong giây phút nhất định, sẽ được nhập thần, được tự giải phóng. Các bài văn Chầu lại cho ta một hình ảnh khá tiêu biểu về các nữ thần. Thì ra tất cả các bà đều là những người vợ trung thành, những người yêu chung thuỷ. Các bà đều luôn muốn sự hòa bình an lạc, muốn phù hộ cho các đệ tử được “Khang ninh thọ trường”. Những lời lẽ này luôn được lặp đi lặp lại để nhất trí ca ngợi công đức và quyền phép của các Mẫu. Một nét độc đáo khác không gặp ở bất cứ một nữ thần nào trên thế giới là các bà Mẫu, các Cô ở Việt Nam, đều rất giàu tình cảm thiên nhiên, đều thích đi du lịch. Bà nào cũng thích dạo chơi ngắm cảnh, cũng thích chèo bơi, chèo khắp non sông đất nước. Và bà nào cũng thích điểm tô, cũng yêu mầu sắc của thiên nhiên và của cuộc đời.
Nhưng có lẽ vấn đề quan trọng hơn cả, là tất cả các bà Mẫu trong hệ thống tín ngưỡng này đều là các nhà giáo dục hẳn hoi. Các bà các cô rất quan tâm đến việc giáo dục gia đình, việc bày vẽ dặn dò, rèn cặp cho các đệ tử, cho mọi người, đặc biệt là cho phái nữ, trở thành con người có đức hạnh “Dựng nền nội tắc”, có thể là phương châm, mục đích của tất cả các thánh mẫu. Bên cạnh những bản văn Chầu - do các đệ tử sáng tác - nêu những tấm gương đức độ, những uy quyền và pháp thuật của các Mẫu - (đáng cho mọi người noi theo), thì có những bài giáng bút được xem là chính do các Mẫu.
Vấn đề giáng bút là vấn đề huyền bí không thuộc phạm vi đề tài này(1). Chỉ cần đi vào nội dung giáng bút, ta có thể thấy được quan niệm giáo dục của các vị thánh mẫu. Thánh mẫu không bắt đầu bằng những lý thuyết gì cao sâu, phần lớn lại mượn khái niệm của cả Nho, cả Phật, cả Đạo, để đưa ra những lời dạy dỗ bảo ban, không cao siêu, không cầu kỳ, nhưng rất thiết thực, rất gắn bó với đời sống con người, nhất là đời sống gia đình, đời sống xã hội. Có hai loại bài trong kho tàng văn giáng bút có thể phân biệt rõ:
Loại thứ nhất: Loại bài giáo dục gia đình, với nội dung chúng tôi đã khái quát ở trên là phương châm “Dựng nền nội tắc”. Có thể nói từ xưa đến nay, chưa có vị thánh nào đặc biệt quan tâm đến vấn đề này như vậy. Văn giáng bút, mà thực sự là bộ sách gia huấn ca. Xuất xứ tác phẩm vẫn còn là vấn đề đang cần khảo sát. Cụ thể là:
- Hình vào đầu thế kỷ 20, chúa Liễu (với tư thế là bậc thánh, đi mây về gió chứ không hiện ra thành người) đã tiến hành một cuộc vân du đi từ đền Sòng (Thanh Hóa) ra Phủ Vân (Nam Hà) rồi lại quay về, đi đến đâu giáng bút đến đó. Có giáng bút của các thánh mẫu, và có các bài xưng tụng của các thủ hạ của chúa Liễu như Hạnh Hoa, Hồng Hoa, Mai Hoa - tất cả được tập hợp vào một cuốn sách lấy tên là Minh Thiện Chân Kinh, nhưng sau đó lại được sửa chữa, bổ sung, đặt tên là Tăng Quảng Minh Thiện Quốc Âm Chân Kinh. Nội dung gồm những bài ca răn dạy, theo trình tự thì khởi đầu ngày rằm tháng Tám năm Canh Tý (1900?) đến bài cuối cùng là năm Quí Mão (1903?), nhà Lạc Thiện Đàn khắc bản trùng sau năm Bảo Đại (Đinh Mão 1927)(1). Điều đáng làm ngạc nhiên là trong sách có một số bài xưng tụng của các vị quan lại đương thời như ông tổng đốc Vương Duy Trinh, Phạm Văn Toán. Cuộc vân du này có thực chăng. Tôi đã lục các báo chí hồi đó (chưa thật đầy đủ lắm) nhưng không thấy có thông tin nào. Các vị quan trên đây đều là mất từ lâu, cũng không biết họ có hồi ký để lại.
Nội dung của bản Tăng Quảng Minh Thiện Chân Kinh, hoàn toàn là một cuốn gia huấn ca. Trừ phần đầu, gồm các bài dụ, bài tựa và những bài tự sự, trong đó chúa Liễu tự thuật cuộc đời mình, còn thì toàn là những bài giáo huấn gia đình. Có thể nhận ra:
Những lời khuyên dạy chung nhân thế của các công chúa Thuỷ Tinh, Hồng Hoa, Liễu Hoa, Bạch Hoa v.v…
Những bài giáo dục bổn phận trong gia đình khuyên dạy làm dâu, làm vợ, làm mẹ, kính trọng chồng, thân ái với họ hàng, ăn ở tử tế với xóm giềng. Có cả những bài nói về người đàn bà góa, về chị em dâu, về khoan dung đầy tớ, buôn bán cho công bằng, đừng trang điểm bèo bọt. Bài của các thánh mẫu chiếm đa số, và cạnh đó là những bài của các công chúa v.v…
Có thực đây là của các thánh mẫu giáng bút không? Vấn đề sẽ được tranh luận ở chỗ khác. Nhưng nghiên cứu văn hóa gia đình, thì đây là một hiện tượng rất đáng quan tâm:
- Theo như cách thức đã được trình bày, văn hóa gia đình rõ ràng nhất là ở sự ăn ở, sự giữ gìn bổn phận, phát huy những ưu điểm cho gia đình được hoan lạc, bình an. Muốn vậy, phải giữ gìn vững đạo nhà, phải “Dựng nền nội tắc”. Và rõ ràng là người phụ nữ có vai trò chính để tạo nên cái văn hóa gia đình này.
- Không biết được tác giả là ai (có thể là các nhà Nho, là các Chí sĩ, hoặc là những trí thức bình dân, hay đúng là những người trên đầu trên cổ) nhưng có thể khẳng định rằng yêu cầu gia huấn này là của đông đảo nhân dân. Gọi là Thánh, nhưng chính thực là người trần, là đại chúng bình thường và có cách nghĩ bình thường của đại chúng, chứ không phải là bộ gia huấn của ông Nghè, ông Cử không phải của các triết gia như ông Trình, ông Chu, của các bậc tu luyện như các Sư tổ, các Cư sĩ. Vậy là cùng với ca dao cổ tích (nội dung giáo dục ứng xử), còn có kho văn chương giáng bút, cũng đóng góp vào văn hóa gia đình Việt Nam. Giá trị của nó là ở chỗ đó.
- Những yêu cầu được đưa ra để đề thành phương châm tu dưỡng đều là những tín điều khá quen thuộc, những thuật ngữ đã được gặp ở các kinh điển Nho, Phật. Có thể do ảnh hưởng của các lý thuyết này, nhưng cũng là chân lý chung, yêu cầu chung theo quan niệm thông thường của nhân dân lao động. Vì vậy không thể vội vàng khẳng định cái gốc Nho giáo hay Phật giáo. Hãy nghe các lý luận bình dân của các mẹ:
Muốn cho trai gái thảo hiền
Mọi điều dạy bảo phải chuyên đêm ngày
Vả nghe người nói xưa nay
Uốn cây nên uốn những này còn non
Dạy con từ thửa còn son
Đến khi cả lớn, ắt khôn hơn người
Dạy ăn, dạy nói, dạy cười.
Dạy đi thong thả, dậy ngồi nết na.
Cái mẫu người mà thánh mẫu muốn đào tạo là:
Trai khôn thứ dạy lễ nghi
Dạy thông tính toán, dạy suy văn bài
Đường ăn lẽ ở vẽ vời
Dạy điều lui tới, dạy lời thảo ngay
Gái khôn thời dạy vá may
Bán buôn nên biết, cây cầy nên siêng v.v…
Điều đã rõ: Đây không phải là thứ học thuyết gì kinh viện cao xa, mà toàn là cách thức, phương pháp thông thường để đảm bảo cho một gia đình đẹp nuôi dưỡng tốt các con cháu. Nhân dân ta xưa nay vẫn muốn thế. Các thánh mẫu chỉ nói thực, sát với trình độ chung. Trình độ của một xã hội nông nghiệp bình yên, khép kín.
Nhưng có phải quan niệm giáo dục này của các Mẫu là đứng yên một chỗ không. Lại không phải như thế. Thánh mẫu vẫn rất cập nhật với xã hội đổi thay, đó là một bình diện khác của nội dung giáng bút.
Loại thứ hai: Ta biết rằng, kể từ thế kỷ 20, đất nước ta đã bước vào một hoàn cảnh mới. Vẫn đang bị đế quốc thực dân thống trị, nhưng chúng ta đã nhận ra được cái thực tế người ngu nước yếu mà cố gắng bước theo con đường duy tân. Cái mẫu người của thời đại không phải là cái mẫu của Nho gia Phật từ xưa kia, mà phải là con người biết tự lực, tự cường, giác ngộ về tư tưởng dân tộc độc lập, dân quyền tự do. Sự tu dưỡng con người nhất định phải khác. Xã hội lúc này bày ra 3 cục diện, có cả những trò rối, những con người sâu mọt hoặc táng tận lương tâm. Một số bài giáng bút của chúa Liễu, để vạch ra chân tướng của bọn người ấy. Thí dụ, chúa Liễu đã thẳng thắn cảnh báo những bọn đáng xem là đồ yêu quái của nước nhà. Bài Nam bang quái vật phú dùng lối chơi chữ rất tài (tiểu xảo lộng ngữ vốn là quen thuộc với tài năng Liễu Hạnh, nàng đã dùng tiểu xảo này thử sức với Phùng Khắc Khoan.
… Giang sơn vì oan trái chi đây, khởi sinh yêu quái
Nông nổi chịu báo đền là thế, ngán nỗi thẹn thùng
Bi chẳng ra bi
Hùng chẳng ra hùng
Lửa hóa ngựa, chắc chi người dòng dõi
Phương ra gà, nào cứ giống cánh lông
Lưỡi nói nghe như khiếu bách thanh, khéo vẽ chuyện đầu cua tai ếch
Miệng ăn quá thuồng luồng trên cạn, đủ mọi mùi chả phượng nem công
Khách hồ nghi, ngỡ cũng là người, người đâu lại lòng chim dạ cá
Kẻ do dự bảo rằng hay ngợm, ngợm sao mà lưỡi yên miệng ong(1)
Châm biếm, đả kích những người mất tư cách như vậy, rồi vị thánh mẫu kêu gọi mọi người, chủ yếu vẫn là chị em phụ nữ, phải làm sao tránh những cái gương bại liệt, bỏ những thói hư, phù hoa, phải tu thân, phải đồng lòng, tĩnh hồn để đi lên con đường mới. Như vậy là quan niệm giáo dục ở đây vẫn rất kịp thời. “Mang chén thuốc tự cường, cứu cho em tỉnh dậy” là nội dung mới của giáo dục thời đại này.
Cả tập Kinh Đạo Nam (ra đời vào thập kỷ 20) của thế kỷ XX thu thập ở các Thiện đàn, là của nhiều vị thần thánh, nhưng nhiều bài đề là của chúa Liễu. Chúa đã ban ra nhiều lời động viên, phù hợp với nhiệm vụ duy tân cứu nước.
Bài đọc thêm
Một số bài giáng bút
Hai bài giáng bút trong tập Tăng Quảng Minh Thiện Quốc Âm Chân Kinh:
Khuyên mẹ dạy con
(Của Đệ Tam Thánh Mẫu)
Thi đào ngâm chữ nghi gia
Dạy con việc ấy đàn bà nên siêng.
Muốn cho trai gái thảo hiền,
Mọi điều dạy bảo phải chuyên đêm ngày.
Vả nghe người nói xưa nay,
Uốn cây nên uốn những ngày còn non.
Dạy con từ thủa còn son
Đến khi cả lớn, ắt khôn hơn người.
Dạy ăn, dạy nói, dạy cười,
Dậy đi thong thả, dạy ngồi nết na.
Dạy nên dạy đạo thực thà,
Nên mà dạy việc điêu toa hay gì.
Trai khôn thì dạy lễ nghi,
Dạy thông tính toán, dạy suy văn bài.
Đường ăn lẽ ở vẽ vời,
Dạy điều lui tới, dạy lời bảo ngay.
Gái khôn thời dạy vá may,
Bán buôn nên biết, cây này liên siêng.
Khuyên răn răn vào gửi ra chiềng (trình)
Trong nhà mọi việc dạy khuyên đến lời.
Một mai trai gái nên người,
Một nhà khuôn phép, muôn đời giầu sang .
Dạy con nên lấy “nghĩa phương”.
BÀI CA DẠY CON
(Của Vân Hương Đệ Nhất Thánh Mẫu)
Công cha mẹ cù lao cúc dục(1)
Dạy con nên dạy lúc còn thơ
Sách có câu: Giáo tử dĩ thi thư(2)
Sau rồi mới “Sung lư khỏa táo”(3)
Nay cổ huấn Thánh hiền dạy bảo(4)
Dạy trẻ thơ sau đáo lão bất vong(5)
Kìa Yến Sơn, năm cành quế liên phương(6)
Chỉ hai chữ nghĩa phương là gia huấn(7)
Khuyên con cứ gia nông học vấn
Sách công phu tu tiến kịp thì (âm cổ là: Kịp thần)
Chớ ngao du mà lãng độ thanh xuân,
Sau lụy đến song thân đường thượng
Khuyên con chớ rượu chè chểnh mảng,
Quá vui chơi rồi tất táng kỳ thân(8)
Thử nghĩ xem gương trước cô nhân .
“Nhất ư thử” lời răn tròn chéo để(9)
Khuyên con cớ cậy thần cậy thế,
Cậy tư cơ thiên vạn kêu tư bồi.
Đạo trời chung chẳng có riêng ai,
Hễ bĩ cực ấy thái lai lẽ đấy(10)
Khuyên con cháu cứ nghe lời dạy,
Chớ kinh nghèo mà lại cậy mình giàu.
Cuộc đời xem tựa bể dâu,
Khi đời, khi nổi biết đâu là thường.
Khuyên con chớ đam hoang nữ sắc,
Quá mê tâm mà thất đức cả chung thân.
Sách có câu: “Sắc dĩ nịnh thân”(12)
Ấy khổ hài mê tân là chốn ấy
Khuyên con chớ tranh từ dấu khí,
Chửi mắng nhau mà để lụy song thân.
Sách có câu: “Ngã dĩ ngô nhân”(13)
Ấy khúc trực, khuất thân là lẽ phải(14)
Con nên phải nghĩ đi nghĩ lại.
Chứ rằng: “Dĩ sĩ hy hiền”(15)
Hoàng Minh Phương @ 11:25 21/03/2010
Số lượt xem: 246
- * Thiên chúa giáo và văn hóa gia đình Việt Nam (21/03/10)
- * Phật giáo và văn hóa gia đình Việt Nam (21/03/10)
- * Nho giáo và văn hóa gia đình Việt Nam (21/03/10)
- * Văn hóa gia đình Việt Nam (phần 6) (21/03/10)
- * Văn hóa gia đình Việt Nam (phần 5) (21/03/10)
Các ý kiến mới nhất