CHÀO MỪNG QUÝ THÀY CÔ VÀ CÁC BẠN TỚI THĂM THƯ VIỆN CHIA SẺ TÀI NGUYÊN DẠY & HỌC

Chào mừng quý vị đến với Website Chia sẻ tài nguyên dạy và học của Hoàng Minh Phương.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > BÀI VIẾT VỀ LỊCH SỬ > Ngàn năm Thăng Long >

* Biểu trưng Thăng Long

avatar
Văn Miếu- Quốc Tử Giám xưa.
(Xuân 2010) - Khi đức Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long - nơi mà trong nhận định của vị vua sáng lập triều Lý viết trong Chiếu thiên đô là không chỉ “có hình thể rồng chầu hổ phục”, mà còn là nơi “dân cư không phải khốn đốn vì nỗi tối tăm, ẩm thấp, vạn vật phong thịnh tươi tốt...

Xem đấy là nơi thắng địa, chỗ bốn phương tụ họp, có thể làm thượng đô kinh sư của muôn đời” - thì đó là điềm báo trước một vận hội mới của quốc gia.

Khi xưa An Dương Vương xây thành ốc, sử chép qua huyền thoại những nhọc nhằn mà triều đại này phải xây thành cao hào sâu để chống chọi, mà cũng không chống chọi nổi giặc ngoại xâm. Thời Lý xây thành không thấy sử chép cụ thể có nhọc nhằn hay không, nhưng điểm lại từ đó về sau này không mấy khi các triều đại phải dựa vào thành để chống giặc. Như thời Lý thì đánh giặc từ xa, “tiên phát chế nhân”: Ở tận châu Ung, châu Khiêm bên nước họ, hay dựa vào sông lập luỹ tận Như Nguyệt bên Kinh Bắc. Mãi muộn sau này, hai vị tổng đốc anh hùng đều bị vỡ thành mà phải tuẫn tiết khi lấy quân giữ thành mà thảm bại.

Dường như với các triều đại kể từ thời Lý, việc giữ nước quyết định ở lòng người thuận với lòng trời hơn là đắp thành cao đào hào sâu. Việc mà triều Lý quan tâm và các triều sau cũng quan tâm là xây chùa và hành đạo, đào tạo và trọng dụng hiền tài. Cùng với “tứ trấn” được lập ở đông - tây - nam - bắc nhờ thần linh trấn trị thì chỉ một hoa hội (60 năm) sau ngày định đô ở Thăng Long, Vua Lý Thánh Tông đã lập Văn Miếu để 5 năm sau (1075) đã mở khoa thi đầu tiên để chọn người có học. Và ngay năm sau, Vua Lý Nhân Tông đã lập Quốc Tử Giám như một thiết chế nhà nước chăm lo việc học và hun đúc nhân tài cho quốc gia.

 

pdf_xuan2010_img_78_500
Văn Miếu- Quốc Tử Giám hôm nay.

Giống như Điện Kính Thiên là không gian thiêng liêng nhất của kinh thành, trải qua nhiều biến động của chính trị và thời gian không hề thay đổi, Văn Miếu - Quốc Tử Giám dường như cũng vậy. Bởi lẽ không đời nào là không trọng việc học. Sử sách chép đến nhiều lần Văn Miếu - Quốc Tử Giám được tu bổ, đặc biệt là lần “đại trùng tu” dưới thời Lê Thánh Tông - một triều thịnh trị với nhiều thành tựu về trí tuệ. Sử chép công trình sửa sang năm 1438 cho thấy quy mô khá lớn của cơ sở giáo dục này. Và cũng dưới triều vua này, bắt đầu công việc vinh danh những người đỗ đạt vào bia đá, tạo nên một di sản cả vật thể và phi vật thể mà giờ đây ta đang kế thừa và mới đây đăng ký làm di sản văn hoá của nhân loại.

Cũng phải nói thêm rằng, thời Minh thuộc kéo dài 2 thập kỷ đầu thế kỷ XV đã chứng kiến chính sách huỷ diệt nền văn hoá Đại Việt của quân xâm lược. Nhưng chính vì Văn Miếu thờ Khổng Tử và các học trò của ngài đều là người phương Bắc nên Văn Miếu - Quốc Tử Giám trở thành một ngoại lệ được bảo tồn.

Những cuộc phân tranh giữa nhà Tây Sơn và các chúa cũng đã chứng kiến những đổ vỡ hư hại tại đây. Và để đáp lại kiến nghị của dân làng Văn Chương xin Vua Quang Trung dựng lại nhà bia trong Giám, người anh hùng áo vải đã trả lời thật lịch thiệp tựa người Thăng Long: “Nay mai dựng lại nước nhà/Bia nghè lại dựng trên toà muôn gian”.

pdf_xuan2010_img_79_500

Vài hình ảnh Văn Miếu - Quốc Tử Giám nay. Ảnh: Giang Huy - T.L


Hoàng đế Quang Trung băng hà, người kế vị là Quang Toản đã quyết định trùng tu Văn Miếu - Quốc Tử Giám, chưa kịp làm thì nhà Tây Sơn đổ. Nhưng vua đầu triều Nguyễn là Gia Long đã giao Tổng trấn Bắc Thành không những sửa sang mà còn dựng thêm một kiến trúc giờ đây trở thành biểu tượng của thủ đô, đó là Khuê Văn các (1805).

Cuối thế kỷ XIX, Văn Miếu Quốc - Tử Giám lại một phen bị binh đao nhiễu sự. Nó đã bị quân đội chiếm đóng, có lúc đã định dùng làm nơi quy tập những người mắc dịch để rồi thiêu huỷ cho hợp vệ sinh của người Tây phương đang cai trị. Chính vòng tường thành thấp bao quanh hiện nay mới được dựng vào thời Tây phá thành và dùng gạch dỡ thành để khoanh khuôn viên hạn hẹp như hiện tồn. Khu đây có thời hoang vắng, biến thành nơi trú của quạ nên Tây gọi Văn Miếu - Quốc Tử Giám là “Chùa Quạ” (Pagode des Corbeaux)...

pdf_xuan2010_img_82
Một góc Văn Miếu.

Nhưng rồi cũng chính nền văn minh phương Tây đã xác lập những giá trị theo quan điểm hiện đại, nay thông qua Viện Viễn Đông Bác cổ lại xếp hạng để bảo tồn như một di tích của nền văn minh bản địa (1906) để rồi gần một hoa hội tiếp theo, năm 1962, Bộ Văn hoá xếp hạng di tích, năm 1994 xây nhà bia để bảo quản một trong những di sản vật thể quan trọng này. Rồi năm cuối cùng của thiên niên kỷ cũ 1999 thì khởi công và 1 năm sau hoàn thành khu Thái học.

Đến nay, có thể nói nơi đây trở thành một điểm du lịch sầm uất nhất và cũng mang tính đặc trưng nhất của thủ đô Hà Nội. Có thể nói đó là nơi mà người Việt Nam tự hào khi giới thiệu với bạn bè ngoại quốc. Hình ảnh Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton sờ đầu ông rùa đội bia tiến sĩ thật gây ấn tượng!

pdf_xuan2010_img_80_500
Bia Tiến sĩ.

Có một quần thể những hiện vật thuộc loại quý nhất của Văn Miếu - Quốc Tử Giám là 82 tấm bia đá khắc ghi tên tuổi những vị đỗ đại khoa kể từ khoa Nhâm Tuất (1442) đến muộn nhất là khoa Kỷ Hợi (1779) trước khi kinh đô triều Nguyễn chuyển vào Huế. Trên những tấm bia này còn lưu lại những bài văn bia giàu nghĩa lý:

Bia khoa Nhâm Tuất nói rõ mục đích: “Cho nên lại ghi tên khắc đá bày nơi cửa hiền tài, khiến kẻ sĩ trông vào mà sinh lòng hâm mộ phấn chấn, tự rèn luyện lấy danh tiết”; còn bia năm 1463 thì nói thêm việc khắc bia “là để gây lạc quan cho kẻ sĩ”; bia 1565 thì nhấn mạnh “Dựng bia vừa để công danh còn mãi đến muôn đời, vừa để sự nghiệp soi sáng ngàn thuở”...

Nhưng có lẽ cái nghĩa lý sâu xa nhất cũng là thông điệp của người xưa qua những bài văn bia ở đây ngưng tụ lại trong câu nổi tiếng của Thân Nhân Trung soạn năm 1442: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy, cho nên các đấng thánh đế minh vương không ai không chăm lo xây dựng nhân tài”. Bia năm 1448 nói thêm: “Nhân tài đối với quốc gia quan hệ rất lớn” và nhiều bia đều nhắc đến việc “phải vun trồng, bồi dưỡng nhân tài”...

 

pdf_xuan2010_img_81
Khách du lịch tới thăm Văn Miếu.

Cũng phải nói thêm để thấy giá trị của các bài văn bia ở đây thật sâu sắc, vì rằng nó còn cảnh báo: “Kẻ sĩ mong được khắc tên lên bia đá này tất phải làm sao cho danh xứng với thực” (1463); “ví bằng ngoài vuông mà trong tròn, trước trong mà sau đục... sở hành trái với sở học thì làm xấu cho khoa mục và chỉ làm nhọ bia đá” (1529); “nếu chỉ mượn tiếng đỗ đạt để cầu ấm no, lấy con đường ấy làm lối tắt để bước lên hoan lộ, thì đời sau sẽ gọi là kẻ tiểu nhân gian tà, thành ra lại bôi xấu cho khoa mục” (1557); “tấm bia này dựng lên sẽ là để phân biệt ngọc với đá, để người thiện lấy đó mà tự gắng, kẻ ác thấy đó mà e dè, đâu phải chỉ nhìn cho đẹp mắt”...

Ngày xuân nếu bạn vãn cảnh Văn Miếu - Quốc Tử Giám, cùng với vẻ đẹp của cảnh quan kiến trúc ngày một cổ kính, ta sẽ càng cảm nhận được cái giá trị tiêu biểu của nơi đây còn chính là những nghĩa lý sâu xa mà biết bao thế hệ hiền tài xuất thân từ đây và đúc kết để đây, làm nên giá trị muôn đời của một nền văn hiến của thủ đô đã ngàn năm tuổi.

Dương Trung Quốc

Nhắn tin cho tác giả
Hoàng Minh Phương @ 17:02 07/08/2010
Số lượt xem: 436
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến