CHÀO MỪNG QUÝ THÀY CÔ VÀ CÁC BẠN TỚI THĂM THƯ VIỆN CHIA SẺ TÀI NGUYÊN DẠY & HỌC

Chào mừng quý vị đến với Website Chia sẻ tài nguyên dạy và học của Hoàng Minh Phương.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > HÀNH TRÌNH KHÁM PHÁ > Vòng quanh thế giới >

* Những sắc màu văn hóa Tây Ban Nha

Tây Ban Nha - một cái tên đầy hình ảnh. Nó luôn gợi cho người ta nhớ đến chàng hiệp sĩ lạ đời Don Quixote, những chàng matador dũng cảm trong các cuộc đấu bò kịch tính, hay các vũ nữ xoay tròn trong điệu flamenco đầy đam mê. Nằm ở nơi giao hội giữa các luồng ảnh hưởng văn hóa Âu châu và Hồi giáp, Tây Ban Nha có vô vàn những vẻ đẹp cũng như những nét tương phản, và  là sự pha trộn giữa truyền thống và hiện đại.

Trong lịch sử, nền văn hóa của Tây Ban Nha đã trải qua các thời kỳ như Celtiberian, La Mã, Visigothic, Hồi giáo, Thiên chúa giáo La Mã. Tây Ban Nha là một trong những quốc gia có nền văn hóa đặc sắc nhất trên thế giới. Do từng có hệ thống thuộc địa rộng lớn vào thế kỉ 16 nên những ảnh hưởng văn hóa của Tây Ban Nha đã trải rộng trên khắp thế giới, từ vùng Địa Trung Hải cho đến tất cả thuộc địa cũ của nước này (bao gồm miền nam nước Mỹ, Mexico, Trung Mỹ, các nước Nam Mỹ trừ Brasil và một số nước khác, vùng biển Caribbean, Philippines).

Tây Ban Nha - Góc nhìn từ nền văn hóa kiến trúc

index_031_500

¨       Hội họa

Hội họa Tây Ban Nha là một thành phần không thể thiếu của hội họa châu Âu và có tầm ảnh hưởng rất lớn. Do sự đa dạng về lịch sử, địa lý, văn hóa, hội họa Tây Ban Nha cũng chịu ảnh hưởng của rất nhiều những nền hội họa khác nhau như Pháp, Italia. Đất nước này là quê hương của rất nhiều họa sĩ nổi tiếng toàn thế giới trong hai trường phái Baroque và hiện đại.

Trong trường phái hội họa Baroque, Tây Ban Nha có hai họa sĩ rất nổi tiếng là Diego Velázquez (1599-1660) và Francisco Goya (1746-1828). Diego Velázquez là họa sĩ hàng đầu dưới triều vua Philip IV. Ông là một họa sĩ theo chủ nghĩa cá nhân, ngoài những tác phẩm vẽ những bối cảnh lịch sử và văn hóa, ông còn vẽ về các gia đình hoàng tộc của Tây Ban Nha và những người bình dân. Còn Francisco Goya là một họa sĩ chuyên vẽ những tranh chân dung về các vị vua của Tây Ban Nha và gia đình hoàng tộc của các vua Charles IV của Tây Ban Nha và vua Ferdinand VII. Ông còn vẽ tranh về các dịp lễ hội, phác thảo tranh châm biếm, những cảnh chiến tranh và các trận đánh. Ông cũng từng tham gia cách mạng Tây Ban Nha.

Trong thế kỉ 20, một trong những họa sĩ nổi tiếng nhất toàn thế giới của Tây Ban Nha là danh họa Pablo Picasso (1881-1973). Cùng với Georges Braque, ông được coi là người đồng sáng lập của trường phái hội họa lập thể. Cũng không thể không nhắc tới Salvador Dalí (1904-1989), một họa sĩ lớn khác của Tây Ban Nha theo chủ nghĩa siêu thực. Ông còn là một nhà điêu khắc, nhiếp ảnh và sản xuất phim và từng đoạt giải Oscar với bộ phim hoạt hình Destiny. Năm 1982, ông được vua Tây Ban Nha Juan Carlos phong chức hầu tước và được trao tặng huân chương Isabella.

¨       Văn học

Văn học Tây Ban Nha là một trong những nền văn học có ảnh hưởng lớn trên thế giới. Nhắc đến văn học Tây Ban Nha, người ta không thể không nhắc tới tác phẩm văn học kinh điển và được yêu thích nhất của đất nước này: tác phẩm Đôn Kihôtê của nhà văn Miguel de Cervantes Saavedra (1547-1616). Đôn Kihôtê là một trong những tiểu thuyết sớm nhất ở châu Âu thuộc thể loại chấm biếm, trào phúng. Tác phẩm nói về nhân vật chính Đôn Kihôtê bị hoang tưởng bởi những câu chuyện kiếm hiệp và những chuyến phiêu lưu kỳ cục, lố bịch của ông ta. Đây là một trong những tác phẩm văn học kinh điển được không chỉ người Tây Ban Nha mà cả thế giới yêu thích.

Tây Ban Nha đã từng có 5 nhà văn đoạt giải thưởng Nobel về văn học. Đó là José Echegaray y Eizaguirre (năm 1904), Jacinto Benavente y Martínez (năm 1922), Juan Ramón Jiménez (năm 1956), Vicente Aleixandre (năm 1977) và Camilo José Cela (năm 1989).

¨       Kiến trúc

new_500

Kiến trúc Tây Ban Nha, cũng như các mặt khác của nền văn hóa này cũng trải qua nhiều giai đoạn và chịu ảnh hưởng của nhiều phong cách kiến trúc khác nhau, đồng thời cũng có ảnh hưởng lớn đến kiến trúc của một số quốc gia khác. Dưới Đế chế Hồi giáo, mà cụ thể là vương triều Umayyad, thành phố Cordoba được thành lập và trở thành một thủ đô văn hóa của người Hồi giáo.

Cũng như các mặt khác của nền văn hóa nước này, kiến trúc Tây Ban Nha trải qua nhiều giai đoạn và chịu ảnh hưởng của nhiều phong cách kiến trúc khác nhau, đồng thời chính phong cách kiến trúc rất riêng của mình, kiến trúc Tây Ban Nha có ảnh hưởng lớn đến một số quốc gia khác trên thế giới. Trong đó, phong cách kiến trúc Hồi giáo được du nhập vào Tây Ban Nha và để lại rất nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng, tiêu biểu là cung điện Alhambra. Đồng thời, những vương quốc Thiên chúa giáo ở Tây Ban Nha cũng hình thành phong cách nghệ thuật của riêng họ, ban đầu khá cách biệt với những phong cách kiến trúc châu Âu nhưng về sau đã hòa nhập vào các dòng kiến trúc La Mã và Gothic và đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Phong cách kiến trúc Mudéjar từ thế kỉ 12 đến thế kỉ 17 là kết quả của sự hòa trộn giữa các ảnh hưởng văn hóa của châu Âu và Ả Rập.

Khoảng cuối thế kỷ thứ 15, trước khi chịu ảnh hưởng của châu Mỹ La tinh với lối kiến trúc thời kỳ thuộc địa, tự bản thân đất nước Tây Ban Nha cũng đã trải qua kiến trúc thời Phục hưng, hầu hết là do các kiến trúc sư địa phương triển khai. Lối kiến trúc Baroque Tây Ban Nha nổi bật nhờ vào nét trang trí hoa mỹ kiểu Churriguesque, phát triển hoàn toàn tách biệt khỏi các dòng ảnh hưởng trên thế giới sau này. Lối kiến trúc thuộc địa, vốn tồn tại suốt bao thế kỷ, vẫn còn có ảnh hưởng mạnh mẽ tại Châu Mỹ La tinh. Trường phái tân cổ điển đạt đến đỉnh cao với công trình của kiến trúc sư Juan de Villanueva và các học trò của ông.

Thế kỷ thứ 19 có hai diện mạo: các cố gắng kỹ thuật để có được một ngôn ngữ mới và đem lại những cải thiện về mặt kết cấu, sử dụng sắt và thủy tinh làm loại vật liệu xây dựng chính, và sự chú trọng học thuật, trước hết vào chủ phong cách chiết trung và phục hưng, sau đến phong cách địa phương. Sự xuất hiện của phong cách tân thời trong quá trình xây dựng các trường đấu đã tạo ra những công trình tiêu biểu như là Gaudi và hầu hết lối kiến trúc trong thế kỷ thứ hai mươi. Các nhóm như GATEPAC đi đầu trong phong cách quốc tế.

 Vào đầu thế kỉ 20, phong cách kiến trúc tân thời đã được hình thành bởi một số kiến trúc sư tài danh như Antoni Gaudí. Những phong cách kiến trúc hiện đại của quốc tế ngày càng phát triển. Tây Ban Nha đã có một cuộc cách mạng trong lĩnh vực kiến trúc, được xây dựng nên bởi hàng loạt những kiến trúc sư nổi tiếng như Rafael Moneo, Santiago Calatrava, Ricardo Bofill và rất nhiều người khác đã làm nên những công trình kiến trúc của thế giới hiện đại ngày nay. Hiện nay, Tây Ban Nha đang trải qua một cuộc cách mạng trong ngành kiến trúc đương đại và các kiến trúc sư Tây Ban Nha chẳng hạn Rafael Moneo, Santiago Calatrava, Ricardo Bofill cũng như nhiều người khác đã tạo dựng được danh tiếng trên khắp thế giới.

Vì có liên hệ đến mỹ thuật, nhiều địa điểm kiến trúc ở Tây Ban Nha, và thậm chí cả những khu vực trong các thành phố, đã được UNESCO bình chọn là Di Sản Thế Giới và được đánh giá là có số lượng Di Sản Thế Giới cao thứ nhì quốc tế, chỉ sau Italia, như:

Cung điện Alhambra xây dựng trên đỉnh đồi nhìn xuống thành phố Granada, được UNESCO công nhận là di sản thế giới từ năm 1994. Đây là một thành tựu kiến trúc lớn nhất ghi dấu văn minh Hồi giáo tại đất nước Tây Ban Nha.

alhambra_00

Ngoài những hoa văn, họa tiết đặc trưng của đạo Hồi, cung điện còn mang nhiều hình dạng đặc trưng của kiến trúc Hy Lạp, La Mã cổ đại. Vì thế cung điện Alhambra còn chứa đựng kiến thức uyên bác về Hy Lạp cổ điển.

Quần thể cung điện Alhambra được xây dựng từ thế kỷ 13 là một viên ngọc của kiến trúc Hồi giáo ở châu Âu. Khu phức hợp được bao quanh bằng một tường bao bảo vệ và cách biệt cung điện với thành phố. Những khu cổ nhất của cung điện có niên đại từ thế kỷ 11 và 12.

Vào thế kỷ 13, Alhambra là nơi thu hút sự quan tâm, bởi nó mang đặc điểm của công trình quân sự. Vì thiếu nguồn tư liệu chi tiết nên việc xác định niên đại của nhiều bộ phận khác nhau trong cung điện Alhambra chỉ có thể khẳng định bằng cách vận dụng giả thuyết và xét đoán bề ngoài. Sân cung điện bao quanh bởi một mái cổng có tổng cộng 124 cột hoa cương, tập trung quanh Vòi phun Sư tử nổi tiếng Bên trong cung điện, ngói gốm đa sắc lấp kín nhiều khoảng không gian nội ngoại thất. Các bức tường hầu như còn nguyên với những họa tiết tinh xảo và không lặp lại khi bước sang căn phòng khác. Mỗi góc nhỏ của cung điện đều mang tính thẩm mỹ rất lớn.

Điểm ấn tượng nhất của cung điện Alhambra là công trình trát vữa không xoa láng, trang trí bằng các motif thực vật và những câu đề khắc. Các nghệ nhân đã khéo léo chạm khắc trên tường, cột và trần nhà những chữ khắc cổ rất tinh xảo, 10% trong số đó là các vần thơ. Chính những người theo trường phái lãng mạn và giới họa sỹ Anh nói riêng, là những người phát hiện ra cung điện và làm cho thế giới phương Tây chú ý trong thế kỷ 19, lý tưởng hóa và biến cung điện thành một nơi huyền thoại. Cũng từ thế kỷ 19, cung điện Alhambra trở thành nơi thu hút du khách nổi tiếng.

Kỳ quan của Alhambra không nằm ở tính chất bất hủ, vẻ hùng vĩ hay sự phong phú, cũng không phải cung điện có bất kỳ sự hợp nhất phong cách nào. Thay vào đó, nét quyến rũ của Alhambra chủ yếu là sự trang trí phi thường mà thiên nhiên cũng như kiến trúc cùng mang đến.sagrada_familia

Thánh đường Sagrada Familia, đại diện cho kiểu kiến trúc Gothic. Công trình nằm ở trung tâm thành phố Barcelona - một trong những địa danh được coi là biểu tượng của đất nước Tây Ban Nha. Được khởi công từ năm 1882, và cho đến nay, trải qua 124 năm, nhà thờ này vẫn chưa hòan thành. Hàng năm, công trình kiến trúc độc đáo này thu hút 5 triệu khách du lịch đến thăm quan và chiêm ngưỡng, và được xem là một công trình đồ sộ với nghệ thuật kiến trúc tinh xảo.

Xuất phát từ mong muốn xây dựng một đại thánh đường cho các tín đồ thiên chúa giáo, người đứng đầu của giáo hội Hose Maria Bokaberra đã đứng ra quyên góp tiền để xây dựng công trình này. Vào năm 1882, công trình này được khởi công xây dựng với sự phụ trách của F.P.Pirial Rosase, người đã hòan thành phần thánh đường ngầm của công trình, nhưng từ năm 1883, nó được phụ trách bởi nhà kiến trúc sư trẻ 31 tuổi Antonio Gaudi. Những ý tưởng kiến trúc độc đáo của ông đã được kế tục và xây dựng cho đến ngày nay. Và đỉnh cao nhất của thánh đường Sagrada Familia là mái cupôn hay mái bát úp khổng lồ, dự định đạt đến chiều cao 170m khi hoàn tất.  Quanh mái bát úp có 4 vòng xoắn khác, cho dù không xây dựng, cao đến 130m tượng trưng cho 4 vị Thánh sử, trong khi một vòng xoắn thứ 5, cao 140m bên trên gian nhà con hình bán nguyệt cuối nhà thờ tượng trưng cho Đức mẹ Maria đồng trinh. Chủ đề theo chiều thẳng đứng được hoàn tất bằng 4 tháp trên đỉnh của mỗi trong số 3 mặt tiền. 12 tháp này tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ, mỗi tháp cao khoảng 100m.

Ngoài ra, tòa tháp hướng ra ba mặt: phía Đông tượng trưng ngày Chúa ra đời, phía Tây tượng trưng tượng trưng cho sự Khổ nạn của chúa Jésus, còn tháp lớn nhất ở phía Nam tượng trưng cho thiên đàng. Có thể nói thiết kế của nhà thờ đầy ắp biểu tượng tôn giáo.

Thánh đường này, khi hòan thành sẽ có tất cả 18 chiếc tháp, tuy nhiên, qua hơn 100 năm mới chỉ có 8 tháp được hòan thành, qua đó chúng ta có thể hiểu được qui mô của công trình này lớn như thế nào. Hiện tại 4 chiếc tháp khác đang tiếp tục được xây dựng và khi hòan thành, sẽ đạt độ cao 170 m. Tiếp sau đó, sẽ xây dựng thêm năm tháp mới bao gồm có tháp trung tâm có gắn cây thánh giá, cùng với các tháp Đức Mẹ Maria, tháp Thánh Phúc Âm,v.v…

Và rất nhiều tòa lâu đài nổi tiếng có bề dày lịch sử mấy trăm năm và nhiều công trình kiến trúc đạt đỉnh cao nghệ thuật như: Bảo tàng Prado - nơi có bộ sưu tập tranh thế giới tốt nhất châu Âu; Đền Debod; Las Ventas - một trong những đấu trường nổi tiếng của Tây Ban Nha; Nhà thờ La Giralda; Alcazar – nơi nghỉ mát của Hoàng gia Tây Ban Nha; Thủ đô Madrid nổi tiếng với những địa danh lịch sử, những viện bảo tàng, những đại lộ rộng lớn, những con phố náo nhiệt và những quán café ngoài trời.

Vũ điệu Flamenco – Một nét nghệ thuật dân gian Tây Ban Nha

furia

Người Tây Ban Nha yêu thích âm nhạc, nhảy múa, đặc biệt là rất thích vũ điệu Flamenco sôi nổi, vì thế mà vũ điệu này cũng trở thành một "đặc sản" của Tây Ban Nha. Điệu Flamenco là sự pha trộn giữa vũ đạo của dân Digan, kết hợp với múa Ả Rập và âm nhạc dân gian miền Andalucia (Nam Tây Ban Nha).

Bên ánh lửa bập bùng, người ta vừa nhảy, vừa hát, vừa múa, chủ đề mà vũ điệu này thể hiện thường là Thượng đế, phụ nữ và tình yêu... Người nhảy gõ chân xuống nền và đánh ngón tay để phát ra tiếng kêu giòn giã, lại có tiết tấu, nhịp điệu, hấp dẫn mọi người bằng vẻ đẹp cơ thể và sự sôi nổi, hào hứng.

Âm nhạc và vũ điệu flamenco mang đậm phong cách đặc trưng của nền vǎn hóa Tây Ban Nha hơn bất kỳ loại hình nghệ thuật nào khác. Vẻ đẹp hình thể gợi cảm của những người vũ nữ được bộc lộ qua những động tác gõ nhịp chân xuống sàn và quay tít những lớp váy bồng bềnh theo tiếng nhạc réo rắt bên đống lửa trong bóng đêm, người nghệ sĩ ghi ta da ngăm đen ngồi trầm tư đệm đàn... Đó là tất cả những nét làm người ta dễ dàng liên tưởng đến chất Tây Ban Nha.

Nếu không nghe quen có thể rất dễ lầm tưởng làn điệu Flamenco là tiếng than khóc nỉ non từ thế giới bên kia vọng về, lẩn khuất đâu đó giữa những vũ nữ trong bộ váy xòe nhiều lớp và chiếc quần ôm sát người, nhưng thật sự đây là một loại hình nghệ thuật độc đáo và tràn đầy rung cảm nghệ thuật, một trong những khía cạnh phong phú nhất của vǎn hóa truyền thống Tây Ban Nha.

Ngay tại quê hương Tây Ban Nha, Flamenco thực ra chưa bao giờ được coi là dòng nhạc chính thống. Tuy nhiên, hiện nay, thể loại này đang đi vào thời kỳ phục hưng và góp phần đáng kể vào những thành công của thể loại nhạc pop Tây Ban Nha.

Đã bén rễ ăn sâu trong tiềm thức cộng đồng người Digan ở mảnh đất nghèo khó Andalusia của miền nam Tây Ban Nha, âm nhạc và vũ điệu Flamenco mang đậm phong cách đặc trưng của nền vǎn hóa Tây Ban Nha hơn bất kỳ loại hình nghệ thuật nào khác.

Giá trị vǎn hóa của vũ điệu Flamenco lớn hơn người ta nghĩ về nó rất nhiều. Những ca khúc Flamenco đều có chung một số giai điệu cơ bản, tuy nhiên một phần không thể thiếu để tạo nên tố chất riêng là đàn ghi ta, tiếng vỗ tay hoặc tiếng gõ nhẹ vào hộp đàn... Tất cả đều mang màu sắc nguyên thủy, hoang sơ của dân ca miền Nam. Người hát được gọi là cantaor hay cantaora, được đệm nhạc bởi một người chơi ghi ta và một hoặc hai người vỗ tay điểm nhịp trở thành một bộ hoàn chỉnh khi biểu diễn Flamenco. Các chủ thể thông thường hướng đến tình yêu, sự mất mát, nỗi luyến tiếc quá khứ hay ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên.

Làm nền cho bài hát có thể có một hoặc hai vũ công dậm chân theo nhịp nhạc. Nếu vũ công là nữ thì họ sẽ cầm vạt váy ken nhiều lớp lót, hua hua trước ngực nhằm phô diễn sức sống, nét gợi cảm của phái nữ. Cái làm người xem thích thú nhất là những nhịp vỗ tay rộn ràng theo điệu nhạc dễ lôi cuốn mọi người cùng tham gia. Đôi khi họ hét lên những tiếng đầy phấn khích để khuyến khích hoặc tán dương người biểu diễn.

Vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX, loại hình nhạc hội Flamenco bị mai một và dần rơi vào quên lãng. Thể loại nhạc này chỉ thực sự nở rộ trong một vài năm gần đây. Nó đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến dòng nhạc pop của Tây Ban Nha cũng giống như ngôn ngữ La ting trở thành chủ thể trong thế giới Anh ngữ.

Flamenco là một sự tái tạo nghệ thuật âm nhạc truyền thống cổ xưa của người Di gan xứ Andalusia... đã được kết tinh vào cuối thế kỷ 19 nhờ các danh ca, nhà soạn nhạc dân gian. Họ đã phát triển những vở ca kịch cổ thành cuốn sử ca mô tả lại cuộc nội chiến thời kỳ đầu công nguyên.

Theo nhà nghiên cứu flamenco học Nunez thì Flamenco đã trải qua một sự cải tiến lớn trong suốt chế độ độc tài của Francisco Franco (1939-1975) khi nó được tái hư cấu và phổ biến trong một phiên bản hợp nhất có tên là "lo folclorico". Mục đích của Franco là thống nhất hoá các dòng Flamenco. Khi Franco mất, mối quan tâm đến thể loại nhạc này cũng chìm vào quên lãng. Thế vào đó là các trào lưu nhạc mới tràn vào từ các nước Mỹ và Anh và không còn ai muốn biết về Flamenco nữa.

Sau đó, trong thập kỷ 70 và đầu những nǎm 80, ở Tây Ban Nha đã nổi lên những tài năng lớn như nghệ sĩ ghi ta Paco de Lucia, một nhạc sĩ có tầm cỡ quốc tế của Tây Ban Nha, và ca sĩ Camaron de la Isla, hình ảnh thu nhỏ của nghệ thuật dân gian Tây Ban Nha đối với giới hâm mộ nghệ thuật Flamenco.

Trang phục truyền thống – Một nét đẹp văn hóa truyền thống

Chiếc áo khoác truyền thống choàng qua vai của phụ nữ Tây Ban Nha đã có lịch sử trên 2 thế kỷ. Mỗi dịp tham gia lễ hội lớn hay đi dự tiệc, phụ nữ Tây Ban Nha đều mặc nó và dùng nó để so sánh với nhau. Áo khoác còn được gọi là khăn choàng. Khăn choàng truyền thống rất chú trọng đến chất liệu, còn thêu hoa. Hình vẽ trên khăn choàng thường trang nhã, đẹp mắt, màu sắc kết hợp với tươi sáng. Có một số nơi, ngày cưới người mẹ thường chuẩn bị 2 chiếc khăn choàng để tặng con gái, biểu thị truyền thống gia đình được truyền đời này đến đời khác. Ngày nay, mọi người thường dùng khăn voan thêu hoa hoặc khăn choàng bằng tơ thêu hoa. Phụ nữ một số nơi còn dùng khăn tam giác làm đồ trang sức cho phần cổ và vai.

mvc0701100066dance

Váy dài kiểu Andalucia là loại váy mang đậm phong cách dân tộc của người dân Tây Ban Nha và đây cũng là loại váy phụ nữ thường mặc. Váy thả dài xuống đến mắt cá chân, bước đi lịch sự, thanh thoát tự nhiên. Váy dài Andalucia thường dài, ôm sát người nên khi mặc lên sẽ khiến cho đường nét phụ nữ nổi bật. Đây là loại váy được phụ nữ Tây Ban Nha yêu thích. Chất liệu của váy cũng không quá cầu kỳ như khăn. Tuỳ sở thích cá nhân mà người mặc có thể chọn cho mình một chiếc váy trang nhã hoặc sặc sỡ. Ngày nay, mỗi dịp lễ tiết quan trọng, phụ nữ Tây Ban Nha thường diện váy Andalucia tô điểm cho đường phố muôn màu muôn sắc.

Đấu bò tót – Một  "tín ngưỡng" rất thiêng ở Tây Ban Nha

a3a

Đấu bò được coi là quốc tuý của Tây Ban Nha. Người Tây Ban Nha thích thú cuồng nhiệt với các trận đấu bò. Người ta không rõ nguồn gốc của trò này dù một mối liên hệ với nền văn hóa cổ Crete được cho là nguồn gốc sinh ra môn này, và hàng năm, có khoảng 5.000 trận đấu diễn ra.

Con bò được dùng trong các trận đấu bò cực kỳ hung dữ, chuyên nuôi để phục vụ đấu bò. Bò đã đấu một lần thì sẽ không được dùng tới bởi bò ra trận lần thứ hai thì không còn hung dữ như lần đầu nữa. Tất cả đấu sĩ đều trải qua quá trình huấn luyện nghiêm ngặt, phải có thân thể cường tráng, lòng can đảm hơn người và kỹ thuật tinh xảo. Đấu sĩ ngoài việc phải giỏi vờn bò đực, còn phải có khả năng của một tay kiếm đâm chết bò. Phần thưởng cho đấu sĩ xuất sắc sau trận đấu là hai cái tai bò và một cái đuôi bò.

Truyền thống môn đấu bò như hiện nay vẫn được thực hiện bao gồm các tay đấu bò chuyên nghiệp, mặc trang phục truyền thống và thực hiện các di chuyển chính thức trong sân đấu với mục đích tỏ ra lịch lãm và tự tin với một thanh kiếm sắc và một tấm vải đỏ xung quanh một con bò đực. Cuối màn biểu diễn là một nhát đâm vào tim để giết chết con bò đấu.

Môn đấu bò tạo ra ra nhiều tranh cãi nảy lửa ở nhiều khu vực trên thế giới, bao gồm cả ở Tây Ban Nha, nơi môn đấu bò truyền thống được tạo ra. Những người ủng hộ môn này cho rằng nó là một truyền thống quan trọng về mặt văn hóa, còn các nhóm bảo vệ quyền động vật thì cho rằng đây là một môn thể thao đẫm máu.

Đấu bò tót luôn là sự kết hợp của thú vị và mạo hiểm. Những trận đấu bò tót với những nghi lễ truyền thống được các matador (đấu sĩ đấu bò) Tây Ban Nha thể.  Tiếng hò reo, tiếng cổ vũ, tiếng trầm trồ thán phục và cả tiếng khóc nức tiếc thương kẻ bại trận đều xuất hiện. Đó là ngày của những trận đấu bò tót được tổ chức.

Khi trận đấu sức mở màn, chú bò tót hăng máu được thả rông ra trường đấu. Đấu sĩ xuất hiện trong bộ trang phục của matador "thứ thiệt". Chỉ bằng miếng vải vờn bò cùng với kiếm thuật điêu luyện, matador đã trình diễn thật tuyệt vời nghệ thuật chinh phục sức mạnh. Nhát kiếm cuối cùng đâm vào đỉnh đầu khi chú bò gục ngã cũng là lời tuyên bố của kẻ thắng trận...

Người ta từng kêu gọi nên hủy bỏ những trận đấu bò tót bởi sự nguy hiểm của nó, nhưng đối với nguời Tây Ban Nha, đấu bò tót không chỉ là một truyền thống, là lòng tự hào mà là còn được coi như một "tín ngưỡng".

Ẩm thực – Nơi thể hiên sự đa dạng về văn hóa Tây Ban Nha

Ẩm thực Tây Ban Nha rất đa dạng và phong phú. Do là một quốc gia với đường bờ biển dài nên Tây Ban Nha có rất nhiều các món hải sản. Sự đa dạng về văn hóa gốc Địa Trung Hải cũng được thể hiện rõ trên các món ăn của nước này với hàng ngàn cách chế biến và hương vị khác nhau.

Thông thường, các món ăn của Tây Ban Nha được chế biến với khoai tây, cà chua, ớt xanh và hạt đậu. Một trong những hương liệu hay xuất hiện trong các món ăn của Tây Ban Nha là dầu ôliu, khi mà nước này sản xuất 44% sản lượng dầu ôliu trên thế giới. Một trong những phong tục ăn uống độc đáo của Tây Ban Nha là các món khai vị (tapas) luôn được phục vụ kèm với đồ uống. Món churro, một loại bánh bột dài chấm với chocolate cũng là một món ăn rất đặc sắc của Tây Ban Nha.

paella  
spanish_cuisine

Phân biệt hương vị Tây Ban Nha trong các món ăn chắc chắn sẽ rất khó khăn, vì nghệ thuật nấu nướng Tây Ban Nha chịu quá nhiều luồng ảnh hưởng. Một trong những hương liệu hay xuất hiện trong các món ăn của Tây Ban Nha là dầu ôliu, khi mà nước này sản xuất 44% sản lượng dầu ôliu trên thế giới. Có rất nhiều đặc sản của các vùng, và cách thức nấu nướng chế biến các món đặc sản này cũng nhiều như số đầu bếp ở Tây Ban Nha. Có nhiều món ăn, nhiều khẩu vị, nhiều mùi vị từ vùng núi xuống đồng bằng, đến miền biển. Thông thường, các món ăn của Tây Ban Nha được chế biến với khoai tây, cà chua, ớt xanh và hạt đậu. 

Một trong những phong tục ăn uống độc đáo của Tây Ban Nha là các món khai vị (tapas) luôn được phục vụ kèm với đồ uống. Món churro, một loại bánh bột dài chấm với chocolate cũng là một món ăn rất đặc sắc của Tây Ban Nha. Chỉ nếm thử tất cả các món ăn ở Tây Ban Nha thôi cũng phải làm cả một cuộc hành trình ẩm thực hàng năm trời. Tuy vậy cũng có vài điểm chung.

Tây Ban Nha là nước chủ yếu ăn gạo, và nhiều món ăn được chế biến từ gạo. Chúng có đủ loại, từ những món hết sức cầu kỳ cho đến những món hết sức đơn giản như món cơm nấu với bất kỳ thứ gì có sẵn trong bếp: một miếng mỡ hun khói hay một lát cá.

Một món tuy tầm thường nhưng cũng gia bản chẳng kém ở Tây Ban Nha là món trứng. Nó có mặt khắp nơi, từ các nhà hàng sang trọng cho đến những hàng ăn bình dân hay tại nhà. Trứng đúc khoai tây, ăn nguội hay để lạnh là món phổ biến. Huevos flamencos - món trứng chiên với thịt hun khói, cà chua và rau, vốn là món ăn truyền thống của Seville, nhưng giờ đây đã thành món ăn của cả Tây Ban Nha. Nhưng dù có chế biến thế nào, món trứng Tây Ban Nha luôn ngon lành và khoái khẩu.

Món Cocidos cũng là một món rất phổ biến. Đó là món hầm truyền thống của Tây Ban Nha. Món này thường gồm rau tươi, rau khô với các loại thịt, và mỗi tỉnh đều có sáng tạo riêng và có tên gọi riêng: người Catalan gọi nó là Escudella, người Andalusia lại gọi nó là Potaje. Mỗi tỉnh cũng có cách chế biến món xúc xích gia vị riêng.

Nhưng, để gọi là tinh túy thực sự của ẩm thực Tây Ban Nha thì không thể không nhắc đến Chorizo - nó có mặt trong mọi món ăn của đất nước này. Bacalao là món cá tuyết muối phơi khô, nó có thể nấu với hành và tiêu, trộn với kem, dầu ô liu, tỏi và các gia vị khác hoặc là rim nó với tỏi để làm thành một thứ nước xốt sền sệt.

Từng là cường quốc hùng mạnh nhất của Cựu Thế giới, Tây Ban Nha  đã nếm mùi vinh quang và quyền lực, và rồi phải chứng kiến niềm vinh quang đó lụi tàn trong thời cận đại. Ngày nay, Tây Ban Nha đang hối hả tự lột xác để trở thành một nước công nghiệp hiện đại, để dự vào hàng ngũ những quốc gia tiên tiến trên thế giới,  trong đó, phải kể đến trách nhiệm quản lý văn hoá Tây Ban Nha được phân chia rõ ràng từ các cơ quan chính phủ trung ương tới từng Bộ quản lý, cụ thể trong từng lĩnh vực văn hoá dựa trên cơ sở hiến pháp chung của quốc gia, các quyết sách tài chính của quốc gia cho từng hoạt động. Chính điều này đã tạo đà cho nền văn hóa Tây Ban Nha tiến đến gần hơn với cộng đồng các nước trên thế giới. Chính sách điều hành thống nhất đã giúp nền văn hoá của Tây Ban Nha phát triển một cách vững vàng trong suốt thập kỷ trước, và một lượng tài trợ tương đối của các cá nhân nắm những vị trí cốt cán trong các lĩnh vực kinh tế đã đóng góp vào ngành công nghiệp văn hoá của đất nước.

Tầm quan trọng trong chính sách điều hành của từng cơ quan quản lý địa phương cũng được điều hành theo một cấu trúc quản lý của cơ quan trung ương, điều này làm tăng tính tự chủ cũng như trách nhiệm của từng công dân trong các hoạt động văn hoá quốc gia. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển văn hoá quốc gia bởi người dân được tự chủ phát kiến, tạo ra những giá trị lớn cho nền văn hoá Tây Ban Nha.

Những thành công như vậy tạo tiền đề cho Tây Ban Nha gia nhập khối EEC năm 1986, điều này đã mang lại lợi ích cho đất nước. Việc Tây Ban Nha xuất hiện trước những cuộc họp quan trọng về văn hoá hoặc trở thành điểm nóng của các sự kiện văn hoá đã thu hút sự chú ý của cư dân trên thế giới

Trước khi toàn bộ cơ cấu chính phủ Tây Ban Nha được kết cấu vững chắc như hiện nay và các khu vực văn hoá được hình thành rõ nét, từng khu vực đã trải qua những biến chuyển sâu sắc trên khía cạnh quản lý và cũng bị ảnh hưởng không nhỏ trong cấu trúc do quá trình toàn cầu hoá. Sự biến chuyển mạnh mẽ của chính phủ Tây Ban Nha trong tiến trình đó đã hình thành một hệ thống vững mạnh. Ngày nay, nhu cầu cho những sáng tạo và hỗ trợ phát triển văn hoá đang gây ảnh hưởng tới đường lối và cấu trúc khu vực của quốc gia.


Nhắn tin cho tác giả
Hoàng Minh Phương @ 13:13 23/11/2010
Số lượt xem: 2595
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến