CHÀO MỪNG QUÝ THÀY CÔ VÀ CÁC BẠN TỚI THĂM THƯ VIỆN CHIA SẺ TÀI NGUYÊN DẠY & HỌC

Chào mừng quý vị đến với Website Chia sẻ tài nguyên dạy và học của Hoàng Minh Phương.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > VIỆT NAM-VẺ ĐẸP TIỀM ẨN > Qua miền văn hóa >

* "Hát mộc" Vốn quý trong di sản văn hóa Khánh Hòa

Hát Mộc - gọi tắt từ “hát xà hát mộc” -  là cách gọi nôm na trò diễn “Trảm xà phạt mộc” (nghĩa đen là chém rắn, chặt cây không cho rắn có nơi trú ẩn), một loại hình nghệ thuật dân gian trước đây từng rất phổ biến ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ.  Ở Phú Yên và Khánh Hòa xưa, loại hình nghệ thuật này gắn liền với lễ cúng đất hay còn gọi là lễ Tá thổ, thường được tổ chức vào ngày 18 tháng 3 âm lịch hàng năm.

 

“Hát mộc” - Di sản văn hoá gắn với lễ Tá thổ

Theo các cụ bô lão ở đình Phú Cang, xã Vạn Phú, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa thì ngày xưa, khi dân chúng di cư tới lập nghiệp ở đây, thường bị “ma quỷ” quấy nhiễu không làm ăn được. Người ta cầu các vị thần linh lên hỏi, mới biết là vùng đất này thuộc về các vị thần linh của người Chàm (Chăm) xưa. Muốn được yên ổn làm ăn thì gia chủ phải làm giấy “vay mượn đất” và “nạp lễ vật” cho chủ đất cũ. Thủ tục này được các thầy pháp thực hiện bằng một lễ cúng gọi là lễ tá thổ (chữ Hán, tá có nghĩa là vay mượn, thuê mướn; thổ là đất đai). Còn theo cụ Ngô Tạ, 80 tuổi, ở thôn Đại Mỹ, xã Ninh Thân, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa cho biết, cúng đất hay còn gọi là khao thổ, dân địa phương quen gọi là cúng lệ. Hàng năm cứ vào ngày 18 tháng 3 âm lịch là có cúng lệ. Nhà nào giàu có, cúng lớn thì thỉnh pháp sư tới làm lễ, nhà nghèo thì gia chủ tự cúng. Nếu cả làng cúng thì gọi là cầu an tống lệ, cứ 3 năm cúng một lần.

Xưa, lễ tá thổ được tổ chức ở đủ mọi cấp độ, từ gia đình đến làng xã. Ở phạm vi gia đình, năm nào gia chủ cũng cúng. Khi cúng, người ta lập bàn thờ ngoài sân, không cúng trong nhà. Nhà nào có thủ kỳ thờ Hoàng thiên Hậu thổ thì cúng nơi này. Đặt bàn cúng lệ có: bàn Bà (theo văn tế của thầy pháp, Bà đây là Cao Dương hoàng hậu Diệu Tú phu nhơn chi thần, cũng có nơi gọi là Hậu thổ phu nhơn); bàn Tổ sư (cúng tổ nghề phù thủy); bàn Hội đồng (cúng các vị thần linh, các bậc khai canh Tiền hiền, Hậu hiền…); bàn Chúa Quái (cúng vợ chồng “chủ đất” là Đào Lương Ban và Nguyễn Thị Thúc); bàn liệc (tiếng là bàn, nhưng thực tế chỉ là một hai chiếc chiếu trải dưới đất để cúng cô hồn). Lễ vật có nhang đèn, trầu rượu, trà nước, bánh trái, xôi chè, gạo muối, thịt gà (loại gà cồ giò), thịt heo, gỏi cá. Đặc biệt bàn cúng Chúa Quái có đĩa rau luộc và chén mắm nêm, đồ mã là hai chiếc gùi trong có để cái “chà dắt” (con dao đi rừng), nồi niêu… (tương truyền vợ chồng “chủ đất” là người dân tộc thiểu số bản địa ở vùng này). Riêng bàn liệc có món cháo nhão để cúng “cô hồn các đẳng” thấp cổ bé miệng, không nơi nương tựa.

Ngoài bàn thờ chính, chủ nhà phải làm hai hình nhân nhỏ bằng đồ mã để “thế chấp” và một chiếc bè bằng bẹ của cây chuối hột, trên bè có cắm cờ ngũ sắc, bánh trái, xôi chè, một miếng thịt heo, nhang đèn, gạo, muối, nước… Khi cúng tới giai đoạn “tống bè” thì gia chủ cho người mang chiếc bè chuối ra bờ sông thả trôi theo giòng nước. Chỉ những trẻ mục đồng chăn trâu lâu năm mới dám vớt bè này lên ăn.

Chủ nhà còn phải làm một cây cung và 5 mũi tên bằng tre để pháp sư thực hiện nghi thức “xạ quỷ” bắn đuổi “yêu quái” đi nơi khác. Sau khi bắn 4 mũi tên ra 4 hướng, mũi tên thứ 5 được giữ lại cùng với cây cung đem dắt lên mái nhà trên phòng trấn áp yêu quái lộng hành sau này (cũng có nơi bắn xong thì bẻ cung tên, ý là yêu quỷ đã bị trừ diệt hết, thiên hạ thái bình nên không cần dùng đến cung tên nữa).

Ở phạm vi làng xã, có thể coi lễ kỳ an tá thổ là một lễ hội văn hóa vì nó được tổ chức định kỳ hàng năm hoặc đôi, ba năm tùy theo điều kiện của địa phương. Tính chất lễ của nó thể hiện qua hệ thống nghi thức cúng tế nghiêm ngặt, tất cả đặt dưới sự hành lễ của một thầy pháp với ý nghĩa làm trung gian thực hiện các thủ tục liên hệ giữa “cõi âm” và “cõi dương”; còn tính chất hội thể hiện ở phần thứ lễ với các trò diễn dân gian (múa bóng, múa siêu, hò bá trạo), sự đông vui của nó đặc biệt đậm đà trong phần biểu diễn hát Mộc.

Từ trước ngày hành lễ, bầu không khí của xóm làng đã náo nhiệt, khẩn trương. Nhà nhà tự lo dọn dẹp nhà cửa, vườn tược sạch sẽ, quang đãng, lo sửa sang bàn thờ và chuẩn bị các phẩm vật thờ cúng. Theo sự phân công của làng, ai vào việc nấy. Người thì lo tham gia dọn dẹp khu vực hành lễ, sửa sang các miếu thờ. Kẻ lại bận chuẩn bị sắm sanh những lễ vật. Ban tổ chức lo việc đón rước thầy pháp cùng gánh hát Mộc về làng, cắt đặt cho nhau phận sự... Đến ngày hành lễ, đông đảo nhân dân trong làng tụ họp ở địa điểm đã quy định để xem thầy pháp thực hiện những nghi lễ cúng Tá thổ.

Bàn thờ các vị thánh thần khói nhang trầm mặc bay. Trên đó là những phẩm vật cúng tế như: heo, gà, xôi, chuối,  gạo, muối, nước, ngoài ra còn có 5 lá cờ ngũ sắc, 5 dải khăn trắng. Bàn thờ gồm có ba bàn: bàn giữa, bàn tả, bàn hữu.

Tín chủ, bồi bái và thầy phù thủy đã sẵn sàng làm lễ cúng. Tín chủ là người thay mặt cho cả làng đóng vai chánh bái. Các vị bồi bái là mấy hương chức được làng chọn, có nhiệm vụ bái lạy theo tín chủ. Thầy phù thủy quần áo chỉnh tề, lại có dải khăn ấn trắng tinh dài ba mét rưỡi quấn cổ và quàng vai. Hai tay thầy trịnh trọng nâng hai cánh khăn.

Sau lễ xạ quỷ là màn “Xuất tam Thánh diệt Hoả linh” được nghệ thuật hóa. Trong lễ Tá thổ, sau màn “Xuất tam thánh” là đến phần thứ lễ. Đây là phần biểu diễn nghệ thuật phục vụ thần linh - xem như phần “hội” của lễ hội. Diễn thứ lễ được nối kết bởi hai phần. Phần thứ nhất là các trò múa bóng, múa siêu và hò bá trạo. Phần thứ hai là trò hát Mộc, diễn tích vua Tống Chân Tông cầu an, mượn đất đuổi yêu quái.

 

Hát Mộc -  trò diễn dân gian mang tính tổng hợp cao

Được xem là trò diễn dân gian mang tính tổng hợp cao, ngoài hát, múa, diễn xuất, hát Mộc còn sử dụng cả ngón nghề phù thủy với những pha phù phép, lập trận đồ, điều binh khiển tướng… So với hát Bộ, hát Mộc coi trọng tiết tấu, nặng về mặt vũ đạo và phát huy mạnh tính hài hước, do đó có sức hấp dẫn và phổ cập đối với đông đảo quần chúng nhân dân.

Hát mộc là trò diễn dân gian được ghi thành bài bản, với các chỉ dẫn về nghi thức tế lễ, về nội dung đối tượng cầu đảo, một kịch bản trò diễn với những nhân vật cụ thể, với những pha phù phép điều binh khiển tướng, cùng với nhiều trò vui chơi hội hè múa hát được tập hợp thành một tuồng tích hoàn chỉnh. Chẳng những thế, nó đã được các nghệ nhân dân gian gia công tập luyện, làm thành những ngón nghề biểu diễn điêu luyện, có tính chiến đấu, tính hấp dẫn cao.

Năm 1987, Nhà hát Tuồng Phú Khánh (nay là Nhà hát Tuồng Khánh Hoà) sưu tầm được ở huyện Vạn Ninh một văn bản Hán - Nôm có tên là “Diễn tích Chân Tông kỳ an tá thổ khu mộc cổ truyền ca” (tạm dịch: Bài ca cổ diễn tích vua Tống Chân Tông cầu an, mượn đất, đuổi yêu mộc). Tuy có thể ước đoán rằng thời xa xưa từng có nhiều vở hát Mộc nhưng đây là lần đầu tiên các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được một “kịch bản” có thể nói là hoàn chỉnh của nghệ thuật hát Mộc. Theo dịch giả Bùi Hữu Hồng - người đã dịch nguyên tác ra tiếng Việt - thì đến nay kịch bản này đã tồn tại được hơn ba giáp, ước tính khoảng gần hai trăm năm.

Kịch bản này do cụ Lê Huấn (đã mất năm 1995), quê ở làng Cát Ném, nay là thôn Hiền Lương, xã Vạn Lương, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa cung cấp. Cụ Lê Huấn là người có trình độ Nho học, đọc thông, viết thạo. Nghề nghiệp chính của cụ là thầy pháp. Gia đình cụ đã ba đời làm nghề này, bắt đầu từ đời ông nội cụ. Cụ Huấn không chỉ là một thầy cúng mà còn là một nghệ nhân giỏi, có thể thể hiện tất cả các vai trong trò diễn hát Mộc. Qua cụ, ta được biết nghệ thuật hát Mộc gắn liền với nghi thức phù thủy. Hát Mộc chỉ diễn trong ngày lễ tá thổ ở các làng xã. Từ những nghiên cứu cho thấy: “Dưới thời vua Tống Chân Tông, ở quận Giải Châu, không hiểu vì sao đã ba năm liền các ruộng lúa và ruộng muối đều bị khô kiệt nước, khiến nông vụ thất thu, nhân dân lầm than, ca thán. Vua Tống sai quan Gián nghị là Vương Khâm lên đường đến miếu Thần Nông để cầu mưa. Trong khi đó, thần Thổ Địa đi tuần tra, bị yêu mộc là Mang Vưu Lang chặn đường. Biết được Mang Vưu Lang cùng bè đảng của nó tận thu nước ruộng, Thổ Địa đánh nó chạy dài, rồi về miếu Thần Nông kể sự tình. Mang Vưu Lang thua chạy về báo tin cùng Mang Vưu Hổ. Nguyên xưa, Mang Vưu Hổ bị Tống Tổ là Hiên Hoài đánh giết rồi lấy đất Giải Châu mà khai phá, lập diêm trì điền địa; cho nên nay Mang Vưu Hổ mới cùng bè đảng đến Giải Châu tận thu nước ruộng để trả thù và chiếm cứ lại đất đai. Được Mang Vưu Lang báo tin dữ, Mang Vưu Hổ lập tức kéo binh tướng đến miếu Thần Nông, đánh Thần Nông và Thổ Địa thua chạy, rồi chiếm cứ miếu. Trên đường đến miếu Thần Nông, Vương Khâm gặp Thổ Địa đón đường cho biết sự tình, nhưng vẫn quyết đến miếu. Tới nơi thì bị Mang Vưu Hổ bắt quay về tâu Tống Vương triệt phá điện thờ Tống Tổ Hiên Hoài và thuận cho nó làm Thần Nông cai quản đất Giải Châu. Vương Khâm không nghe, bị giết chết. Thổ Địa cải tử hoàn sinh cho Vương Khâm, bảo về tâu vua cầu thiên tướng xuống trừ yêu mộc. Vương Khâm về tới triều đình, tâu rõ sự tình và được vua Tống sai lên chùa Ngọc Truyền Sơn, cầu được thánh Cao Công giáng trần cùng các thánh khác là Tề Thiên Đại Thánh, Vĩ Lang đại tướng đô thiên, Huyền thiên Chân Vũ. Cao Công và các vị thánh kể trên đi đánh, bắt được Mang Vưu Hổ, đày đi nơi xa. Yêu quái Hỏa Linh xuất hiện, phun lửa đốt chết Vĩ Lang để trả thù cho Mang Vưu Hổ. Thổ Địa cải tử hoàn sinh cho Vĩ Lang. Thần Nông về lại miếu cũ rồi cùng Thổ Địa xuống Đông Hải Long cung xin Thánh mẫu Thủy Triều cho nước lên đồng ruộng Giải Châu. Thánh mẫu Thủy Triều mở hội chiếu tinh đăng dẫn nước lên. Đất Giải Châu thái bình, dân chúng từ đấy an cư lạc nghiệp”.

Điểm độc đáo trong hát Mộc là sự có mặt của thần chú. Thần chú vốn là lối hát của các thầy phù thủy dùng để “làm phép”, “triệu hồn”,“triệu âm binh”, trừ khử tà ma, quỷ quái. Trong trò diễn hát Mộc, các nhân vật như Vương Khâm, Vĩ Lang, tam thánh Tề - Huyền - Đô, Thổ Địa... đều vâng lệnh Trời xuống thế gian để trừ khử Ngũ phương yêu mộc cứu khổ cho loài người. Từ phái chính đến phe tà đều có quyền phép cao siêu, trong đó thần chú là một trong những vũ khí đối đầu giữa hai thế lực. Do đó thần chú tồn tại trong hát Mộc là điều hợp lý.

Về kết cấu của Hát Mộc

Xét về kết cấu, kịch bản này khá dài (gồm 23 lớp) nhưng kết hợp với nhau rất chặt chẽ, hợp lý. Nội dung câu chuyện hấp dẫn, có đầu, có cuối, thực chất là nghệ thuật hóa - dưới hình thức yêu thoại và mượn chuyện Trung Quốc - cuộc chiến đấu quyết liệt của lương dân chống lại cái Ác thông qua việc diệt trừ “yêu mộc”, phản ánh sinh động cuộc đấu tranh chinh phục tự nhiên của ông cha ta thời kỳ khai sơn phá thạch, mở mang đất mới.

Có bốn loại nhân vật xuất hiện trong trò diễn, gồm:

­   Các đấng thần linh như Thánh Cao Công và hai bộ tướng là Quan Bình và Châu Xương, Thái Thượng Lão Quân, Cửu Thiên Huyền Nữ, Tề Thiên đại thánh, Huyền Thiên chân vũ, Đô thiên đại tướng, Linh Quang Thổ Địa, Thanh Đồng, Vĩ Lang tướng hổ, Ngũ vị tiên nương.

­   Những thế lực hung ác như “Ngũ phương yêu mộc” hiện thân thành Hỏa Linh (hay còn goi là Xích xà), Thanh xà, Bạch xà, Hắc xà, Huỳnh xà. Bên cạnh năm con rắn độc là hai anh em ác quỷ Mang Vưu Lang, Mang Vưu Hổ.

­   Những người có quyền lực nơi hạ giới như Tống Vương, lão quan Vương Khâm và các quan, quân triều đình.

­   Đại diện chúng dân là những người nghinh rước Thủy Triều, hò bá trạo gồm Tổng Thương, Tổng Lái, Tổng Mũi và các trạo phu…

Về mặt âm nhạc

Trong hát Mộc có 13 điệu hát, gồm: Nói lối, Bạch, Xướng, Phú, Thán, Khách, Tẩu , Nam ( Nam ai, Nam xuân, Nam lụy), Loạn (Loạn đả, Loạn chạy), Chiếu tinh đăng (hát múa đèn), Hát đò đưa, Hò bá trạo, Thần chú. Như vậy hầu hết các làn điệu của nghệ thuật Tuồng (hát Bộ) đều thấy xuất hiện trong hát Mộc, nhưng ở đây - như nhận xét chung của các nhà nghiên cứu - chất bác học, cổ điển của làn điệu mờ nhạt đi, còn chất dân gian hiện lên rõ nét, đậm đặc hơn. Nghệ nhân thể hiện các điệu hát Mộc ít luyến láy hoa mỹ, ngữ khí nặng nề; cái hay là rõ lời, rõ chữ nhưng chưa thể so sánh với sự điêu luyện, tinh xảo của hát Tuồng. Các động tác múa trong hát Mộc tuy vẫn là tương, sơ, xoan, cầu, khán, lỉa, bê, xiến của vũ đạo Tuồng nhưng đơn giản hơn, thô hơn, mộc mạc hơn.

Nghệ thuật hát Mộc rất gần gũi với nghệ thuật Tuồng: phong cách ước lệ tượng trưng rõ nét, lớp lang biểu diễn tương tự, có chung các làn điệu và vũ bộ. Cũng theo lời các nghệ nhân hát Mộc, hóa trang, phục trang, đạo cụ, nhạc cụ của hai loại hình nghệ thuật trên đều giống nhau.

Xưa kia, hát Mộc chỉ diễn trong ngày lễ tá thổ ở các làng xã. Do những đặc điểm riêng, nghề hát Mộc hầu như chỉ được lưu truyền trong nội bộ gia đình. Thành phần diễn viên của các gánh hát Mộc hầu hết là con em, thân thích trong nhà, trong họ của các thầy pháp. Đa số các thầy dạy nghề theo cách truyền khẩu, chỉ một số ít các thầy có chữ nghĩa mới ghi chép thành sách vở để lại. Vì vậy khi các thầy pháp không còn được phép hành nghề, lễ tá thổ không còn được tổ chức thì hát Mộc cũng mai một. Hơn nữa, một khi những tài liệu liên quan đến hát Mộc bị xem là loại sách “mê tín dị đoan” thì con cháu các thầy cũng không dám tàng trữ khiến nghề hát Mộc bị thất truyền. Do đó, hiện nay, hát Mộc đang có nguy cơ thất truyền,  nghệ thuật hát Mộc và nghi lễ cúng tá thổ hầu như chỉ còn trong ký ức chắp vá của một số con em, thân thích các thầy phù thủy hết thời.

Trò diễn hát mộc trong lễ kỳ an tá thổ của người Việt ở nông thôn Khánh Hòa xưa đã ra đời từ dân gian và được lưu giữ trong dân gian hằng bao đời nay. Nó không chỉ thể hiện một mảng rất riêng đời sống văn hóa tinh thần của người dân ở vùng đất cực Nam Trung bộ đầy nắng gió này mà còn góp phần tạo nên diện mạo văn hóa Việt Nam trong sự đa dạng và thống nhất. Gìn giữ, nghiên cứu và phát huy những tinh hoa của nghệ thuật hát mộc - một vốn quý trong di sản văn hoá phi vật thể của Khánh Hoà - vào cuộc sống đương đại với ý thức “gạn đục khơi trong” chính là việc làm chính đáng và cấp thiết.

(ST)


Nhắn tin cho tác giả
Hoàng Minh Phương @ 12:58 23/11/2010
Số lượt xem: 693
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến