CHÀO MỪNG QUÝ THÀY CÔ VÀ CÁC BẠN TỚI THĂM THƯ VIỆN CHIA SẺ TÀI NGUYÊN DẠY & HỌC

Chào mừng quý vị đến với Website Chia sẻ tài nguyên dạy và học của Hoàng Minh Phương.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > VIỆT NAM-VẺ ĐẸP TIỀM ẨN > Qua miền văn hóa >

* Hát phường vải: Nét độc đáo của dân ca Nghệ An

Người dân Việt Nam dù ở bất kỳ  nơi đâu cũng luôn tự  hào về nền văn hoá  dân gian đặc sắc, đặc biệt là  nhửng câu dân ca thắm đượm nghĩa tình. Dân ca được truyền miệng từ  đời này qua đời khác, từ  miền này qua miền khác, giao lưu trong dân gian.

Được đúc kết từ nhửng lời ăn, tiếng nói mộc mạc, từ cái hay, cái đẹp, cái tinh tuý trong nhân dân lao động nơi ruộng đồng, sông nước, các làn điệu dân ca được coi như nhửng nét văn hoá  đặc trưng của từng vùng, miền và mỗi khi nhắc tới một vùng nào đó thì tất cả mọi người dân Việt Nam đều biết về làn điệu dân ca độc đáo của miền quê ấy.

Hát phường vải là một loại hát ví đặc biệt nhất trong gia tài dân ca của vùng Nghệ An. Cũng như các loại dân ca khác, nó là một phương tiện văn nghệ tự túc của nhân dân Nghệ An. Nội dung căn bản của nó mang đậm tính trữ tình. Song nó có khác các loại dân ca khác ở chỗ có sự tham gia của những nhà nho. Cho nên tính chất một số câu hát, quy cách trong khi hát, hình thức câu hát, quá trình của một cuộc hát... có phức tạp hơn.  

Hát phường vải là một loại hình văn học dân gian, một loại hát ví đặc biệt nhất trong gia tài dân ca của vùng Nghệ An. Cũng như các loại dân ca khác, nó là một phương tiện văn nghệ tự  túc của nhân dân, gắn liền với các phường vải của các cô gái xứ Nghệ, nhất là các vùng Nghi Xuân, Kì Anh, Đức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà... (Hà Tĩnh); Nam Đàn, Đô lương, Thanh Chương, Quỳnh Lưu, Diễn Châu... (Nghệ An). Điệu hát thể hiện sự cần mẫn, trí tuệ, khoe sẵc, đua tài. Các giai điệu ứng đối, sáng tác, chỉnh sữa. Là một môn nghệ thuật như món ăn tinh thần của người dân xứ Nghệ. ..

Nghệ nhân dân gian là những "tác giả" của những câu hát phường vải đầu tiên và cũng chính họ là những người bảo lưu, kế thừa và phát huy vốn hát ví, vốn ca dao, dân ca truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa quê hương, dân tộc này.

Hát phường vải: Câu hát gắn với lao động sản xuất

Những câu hát phường vải là những câu biểu lộ tâm tinh của hai bên trai gái, hoặc là những ước mơ về yêu đương, hoặc là những lời oán trách kẻ chia rẽ tình duyên và bao giờ cũng lạc quan, tin tưởng. Hát phường vải là một loại hát ví đặc biệt trong gia tài dân ca của vùng Nghệ Tĩnh. Cũng như các loại dân ca khác, nó là một phương tiện văn nghệ tự túc của nhân dân Nghệ Tĩnh. Nội dung căn bản của nó mang đậm chất trữ tình, song nó có khác các loại dân ca khác ở chỗ có sự tham gia của những nhà nho. Cho nên tính chất một số câu hát, quy cách trong khi hát, hình thức câu hát, quá trình của một cuộc hát... có phức tạp hơn. Nghệ nhân dân gian là “tác giả” của những câu hát phường vải đầu tiên và cũng chính họ là những người bảo lưu, kế thừa và phát huy vốn hát ví, vốn ca dao, dân ca truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa quê hương, dân tộc này. Hát phường vải chỉ có ở Nghệ An.

Hát ví phường vải xuất hiện từ lúc nào chưa ai biết chính xác, nhưng phát triển rầm rộ nhất vẫn là thời gian ngành bông vải sợi du nhập vào Việt Nam. Do hát ví gắn liền với lao động, nên mỗi một loại hát ví lại gắn với một loại hình lao động riêng biệt như: hát ví của nhửng người đi cấy thì gọi là ví phường cấy, hát ví của nhửng người đi củi thì gọi là ví phường củi, hát ví của nhửng người dệt vải thì gọi là ví phường vải... Trong lúc đưa thoi, dệt vải, các cô thường hát với các cậu trong làng tới hát đối hoặc hát tỏ tình, hát đố, hát thử tài. Ngành dệt vải khá sung túc, nên các cô thường được đi học với các thầy đồ. Vì vậy trong vùng phường vải có nhiều thầy giáo và chính họ tham gia các buổi hát đối trong vai thông sự để nhắc lời cho mấy cô phá lại các cậu tới thử tài. Vào những dịp nông nhàn, trong những đêm thời tiết tốt, quanh năm bảy chiếc xa quay sợi, những tiếng hát hay qua những câu đối đáp tài tình, tao nhã của hai phe nam nữ đã lôi cuốn được bao nhiêu người, từ những người tầm thường đến những bậc cự nho như Tú San, Mền Cơ (tú tài Hoàng Đình Thực ở xã Thịnh Lạc), Giải San… Do vậy, hát ví phường vải chính là sự kết hợp giữa những người trí thức với người lao động.

Ở thôn Bố Đức, kế cận rú Dồi, vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, có một người hát phường vải hay nổi tiếng là tú tài Lê Đinh San (hay Sách) mà người ta thường gọi Tú San (hay Tú Sách) hoặc Hàn San (hay Hàn Sách) đã để lại trong dân gian nhiều câu hát lưu truyền đến ngày nay.  
Đề tài hát phường vải thường xoay xung quanh chuyện tình yêu, hỏi thăm tên tuổi, thử tài kiến thức.

Hát ví phường vải thường có các nhà nho tham gia ứng tác và đối đáp, vừa tình cảm vừa thể hiện trí tuệ, nhờ vậy hát ví chính là sự kết hợp giữa những người trí thức với người lao động.

Hát phường vải  trong hệ thống nghệ thuật Việt Nam

Nếu xét về  phương diện văn học thì ví phường vài còn là cuộc thi tài đọ sức về văn chương. Chính vì thế mà ngày một thu hút đông đảo các nhà trí thức xa gần tụ hội về Nam Đàn để tham gia hát ví phường vải. Trên cơ sở ấy, hát ví phường vải đã vượt cao hơn văn nghệ bình thường và đỉnh cao là "tuyên truyền cách mạng" khi các nhà cách mạng tham gia hát ví đã lồng vào nội dung cổ động, phát động phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc…

Hát phường vải có truyền thống lề lối đàng hoàng. Câu văn nghiêm chỉnh, đúng niêm luật, thơ lục bát phần  đông nhưng có khi biến thể. Người hát phải làm cùng nghề kéo bông. Con trai khi đến hát phải đứng ở ngoài đường. Khi nào qua được chặng đầu (hát dạo, hát chào), và chặng nhì (hát đố ) thì mới được mời vào bên trong nhà tiếp tục hát xe kết trước khi hát tiễn . Ngày xưa Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu có tham dự với tính cách thông sự cuộc thi hát phường vải và đặt lời cho nhiều bài hát. Hát phường vải với mức sáng tác dồi dào mỗi lần có cuộc gặp gỡ đã mang lại cho nền văn chương bình dân nhiêù bài hát nhất. Rất tiếc là ngày nay hát phường vải đã đi vào quên lãng với ngành dệt vải đã "được" (hay "bị") kỹ nghệ hóa từ gần nửa thế kỷ.

Trong ví phường vải, hát hỏi (hát đố, hát đối và hát xe duyên (hát tình, hát xe kết)) là để lại nhiều  áng văn chương hay nhất. Con gái Nghệ An vốn yêu thơ ca, con nhà nông có, con nhà khoa bảng có, khi hát đố sách, đố chữ, có khi hát đố về thực tế. Có khi là "Truyện Kiều anh thuộc làu làu, Đố anh đọc được một câu hết Kiều", có khi là câu đố đố hóc búa:

Năm con ngựa cột cồn Ngũ Mã

Chín con rồng nằm Cửu Long Giang

Chàng mà đối được, có lạng vàng em trao…

Ví phường vải là một thể vừa định hình vừa không câu thúc bởi điều gì, thậm chí không cần đến một nhạc cụ nào nên sức sống của nó rất lâu bền, dù canh cửi giờ đây không còn nữa. Chính người phụ nữ là người nuôi đạo lý, giữ gìn nền nếp, gia phong, hương tục, rộng ra là bản sắc văn hoá Việt Nam. Vai trò cao quí của người phụ nữ là ở chỗ đó. Người phụ nữ xứ Nghệ rất bình đẳng với nam giới và có tính cách cứng cỏi, mạnh mẽ. Để được giải phóng, họ dám phát biểu, đương đầu và không lệ thuộc vào những giáo điều. Người ta hay chê kẻ đứng núi này trông núi nọ.  
Trong kho tàng tục ngữ, ca dao vùng này có câu giận, câu thương, câu chán, câu hờn nhưng xét về tần số thì câu thương, câu nhớ, câu nghĩa, câu tình vẫn đậm đặc hơn cả. Khi sáng tác thì rất phong phú, đa dạng. Qua thời gian, tức là qua sự chọn lựa của con người, thì cái mà người Việt Nam muốn truyền cho nhau vẫn là tình - nghĩa (hơn cả kinh nghiệm sản xuất). Tình - nghĩa ấy ở vùng đất vốn nhọc nhằn này như được cô nén hơn, thống thiết hơn.

Xin trời hãy nắng khoan mưa

Cho dâu xanh bãi, cho vưa lòng tằm

- Khi mô cho đến tháng mười.

Đọi cơm khúc cá vừa cười vừa ăn…

Với người yêu:

- Đã thương thì  thương cho chắc

Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn

Đừng như con thỏ nọ nó đứng đầu truông

Khi vui giỡn bóng,

Khi buồn bỏ  đi…

- Thương em răng được thì thương

Đừng trao gánh nặng trửa (giữa) đường tội em.

Nét độc đáo của dân ca Nghệ An  

Theo các nhà nghiên cứu, nếu phân theo loại hình lao động thì xứ Nghệ có đến hơn 20 loại hát ví, nhưng nếu chia làn điệu theo tình cảm, hát ví cũng tương đối đa dạng như: ví thương, ví giận, ví ai oán, ví tình cảm... tức là con người có bao nhiêu cung bậc tình cảm thì có bấy nhiêu loại hát ví. Trong các cuộc hát ví thường hình thành hai nhóm nam và nử, mỗi nhóm có thể là một nam, một nử, nhưng cũng có thể nhiều hơn. Có đến hàng trăm câu ví lần lượt được đưa ra để thi thố, đối đáp và rồi nhửng câu hát ấy được lớp thế hệ sau ghi nhớ bởi lời thơ vô cùng bình dị, dễ thuộc, nhưng cũng rất đỗi tài hoa.

Về lời ca, hát ví lấy thể thơ lục bát làm gốc, về  sau do nhu cầu tình cảm của nội dung mà hình thức dần dần được biến hoá, tiết tấu phát triển, người ta hát ví trên thể thơ song thất lục bát. Câu ví truyền thống được xây dựng trên hệ thống điệu thức năm âm, giai điệu được lập thành trên một câu thơ lục bát hoàn chỉnh mà nhửng âm chính của điệu thức được vận động biến hoá ở âm thứ sáu của cả hai vế trong câu thơ. Vậy là vần của thơ đã gắn liền với điệu của nhạc, nhịp điệu của câu hát được gắn liền với tiết tấu câu thơ.

Trong hát ví, thanh niên nam nử đã vượt ra khỏi tầm tư tưởng phong kiến, họ từ làng này sang làng khác, từ vùng nọ qua vùng kia để tìm kiếm bạn hiền, chọn vợ, chọn chồng bằng quyền tự do của chính mình. Rõ ràng, họ đã lấy hát ví làm ngọn giáo để chống lại tư tưởng kìm kẹp, o ép của chế độ phong kiến bấy lâu. Xưa cũng thế mà nay cũng vậy, theo cách gọi tên trong dân gian thì hát ví Nghệ Tĩnh rất đa dạng và phong phú, nhưng dựa trên tính chất âm nhạc thì hát ví chỉ có một làn điệu. Khi câu hát cất lên ta nghe vừa dí dỏm lại vừa buồn man mác, hát cho người khác thì ít mà hát cho chính mình thì nhiều. Người nghệ sỹ nông dân đã gửi gắm vào trong nhửng lời ca, câu hát biết bao tâm tư, tình cảm ấp ủ bấy lâu. Ta có thể coi hát ví là nhửng bản tình ca của người lao động, nó gắn bó máu thịt và trở nên quá đỗi thân quen trong sinh hoạt thường ngày của người dân Nghệ An.

Ví phường vải thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức nam xuân, vừa tình tứ lại lửng lơ, bay bổng, không nghiêng về màu sắc của điệu trưởng (Bắc) mà cũng không nghiêng về điệu thứ (Nam). Ví đò đưa thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức Nam ai, tạo được tính chất nhẹ nhàng, bâng khuâng, lại thêm chút vương buồn sâu lắng, có thế ổn định, nghiêng về màu sắc của điệu thứ (Nam). Cùng là một câu thơ lục bát nhưng ví đò đưa hát khác mà ví phường vải hát khác. Ví phường vải là lối hát bắt nguồn từ nghề trồng bông, nuôi tằm, dệt lụa. Còn ví đò đưa là lối hát bắt nguồn từ sông nước. Người hát thường là nhửng trai bạn chèo chống trên thuyền xuôi ngược dọc sông, hoặc các phường buôn, phường nón... Họ cho hai thuyền đi song song, có khi ghép hai thuyền lại cùng xuôi, cùng ngược và hát với nhau thâu đêm suốt sáng. Tuy nhiên, giọng ví phường vải không chỉ hát trên cạn, trên làng và giọng đò đưa không chỉ hát dưới sông, dưới thuyền mà trong hát phường vải có giọng đò đưa, trong ví đò đưa có giọng phường vải.

Trong hát ví thì  ví phường vải có phần phong phú và thông dụng hơn cả. Hát phường vải thường diễn ra vào ban đêm, sau thời gian lao động nơi sông nước, ruộng đồng. Hễ nơi nào có quay sa, kéo sợi thì nơi ấy có hát phường vải. Họ hát vào lúc tuổi trưởng thành, trai thanh, gái lịch. Nhiều đôi trai gái bắt đầu từ hát ví phường vải mà nên vợ nên chồng, bằng không thì cũng là sự giao lưu, trao đổi tình cảm, thi thố tài năng, tô thêm nét đẹp cho cuộc đời. Đây là một nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh, mang đầy tính nhân văn trong đời sống nông nghiệp ở nông thôn nước ta, góp phần không nhỏ tạo nên sắc thái văn hoá độc đáo của dân tộc Việt Nam

Hát "phường vải " ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh cũng giống như hát "ví", hát "lượn" ở một số vùng khác, hai bên con trai, con gái hát đối nhau, bên này hỏi bên kia phải trả lời, cái khó là câu hói (thường là thơ lục bát) có bao nhiêu câu thì câu trả lời cũng phải có ngần ấy câu hoặc ít hơn, nhất thiết không được nhiều hơn, mà phải trả lời đầy đủ ý của câu hỏi.

Nhạc cụ đi theo

Nhạc cụ như  cần, nhị, sáo, trống con, đàn bầu.

Những chặng hát

Chặng một, ba bước: "Hát dạo" - "hát chào", "hát mừng" - "hát hỏi".

Chặng hai, một bước: "Hát đố", hát đối là bước rất quan trọng, có được mời vào nhà để tiếp tục hát hay không là ở chặng này.

Chặng ba, ba bước: "Hát mời" (vào nhà) - "hát xe kết" (bước căn bản, bước dài nhất) gồm "hát thương", "hát nhớ", "hát than", "hát trách"...

Bảo tồn và  phát huy giá trị của hát ví phường vải

Phong trào hát ví  phát triển theo thời gian, rồi cũng lắng theo thời gian. Bảo tồn và phát huy hát phường vải-dân ca Nghệ An chính là bảo tồn hình thức nghệ thuật diễn xướng độc đáo của Nam Đàn, giới thiệu cho du khách trong và ngoài nước về tham quan quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính quyền địa phương đã thành lập Trung tâm hát ví phường vải xã Kim Liên để quản lý "Câu lạc bộ hát phường vải Kim Liên" và "Đội hát phường vải Hoàng Thị An" ở các xóm. Tuy vậy, việc khôi phục và phát huy hát ví phường vải vẫn còn nhiều khó khăn.

Ông Nguyễn Hữu Cự-Chủ nhiệm trung tâm hát ví phường vải cho biết: hiện nay trung tâm chưa có địa điểm hoạt động và tập luyện, chưa có các nhạc cụ như cần, nhị, sáo, trống con, đờn bầu để tập, hơn nữa lớp trẻ chẳng mấy ai say sưa hát ví như các ông, các bà ngày xưa. Có không ít những nghệ nhân cao tuổi nên giọng hát yếu và không cất cao được. Còn lớp trẻ, do chưa có thời gian tập luyện và chưa được bồi dưỡng thích đáng nên chỉ mới hát được ang áng điệu và chưa thành thạo về kỹ năng kỹ xảo, chưa kết hợp được hát và quay xa". Chính quyền địa phương đã tổ chức các lớp huấn luyện, nhưng để hát cho đúng âm điệu, thể hiện đúng hoạt cảnh thì thế hệ trẻ bây giờ vẫn phải bỏ công dày sức học hỏi mới có điều kiện phỏng lại hình ảnh của những người xưa.

Để hát ví phường vài là bộ môn nghệ thuật, là món ăn tinh thần của người dân xứ Nghệ, chủ nhiệm Trung tâm hát ví phường vải Nam Sơn Nguyễn Hữu Cự đang có kế hoạch xây dựng điểm giới thiệu hát ví phường vải đi đôi với truyền thống ngày bông vải sợi với hình ảnh bà Hoàng Thị Loan bên khung cửi ở làng Hoàng Trù. Đây là công trình nghiên cứu của Ninh Viết Giao về kho tàng dân ca Nghệ -Tĩnh. Theo GS. Đặng Thai Mai thì đây "là một công trình nghiêm túc" nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ được nguồn gốc - diễn biến và sự lưu truyền hát phường vải là loại hát ví được nhân dân Nghệ - Tĩnh rất ưa thích. Tác phẩm nằm trong cụm công trình được giải thưởng Nhà nước đợt I năm 2001.

Hiện tại các cấp chính quyền rất quan tâm cho môn nghệ thuật này, nhưng vẫn chưa đạt hiệu quả cao trong công tác. Còn lớp trẻ, do chưa có thời gian tập luyện và chưa được bồi dưỡng kỉ, nên chỉ hát bắt chước điệu. Không thành thạo về kỹ năng, kỹ xảo, chưa kết hợp được hát và múa. Muốn tập luyện phải bỏ công dày sức học hỏi mới có điều kiện, phỏng lại hình ảnh của những người xưa. Các nghệ  nhân cũng đang cố hết sức để tìm ra những lớp thanh niên để giữ gìn truyền thống ca hát của dân tộc.

(Nguồn: cinet)


Nhắn tin cho tác giả
Hoàng Minh Phương @ 18:25 01/10/2010
Số lượt xem: 734
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến